CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỐ TRÍ VÀ SỬ DỤNG NHÂN SỰ TRONG KỶ NGUYÊN 4. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân sự của tổ chức * Nhân sự - Nhân sự được hiểu là toàn bộ những khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất [Ths Nguyễn Tấn Thịnh (2003), Giáo trình Quản lý Nhân sự trong doanh nghiệp, Khoa Kinh tế và quản lý, Trường Đại học Bách Khoa - Hà Nội]. - Như vậy khái niệm Nhân sự này đề cập đến từng cá nhân cụ thể, được coi là đơn vị cấu thành của nguồn nhân lực.
Một tổ chức được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn Nhân sự của nó. Thuật ngữ “nguồn nhân lực” mới chỉ xuất hiện vào những năm 1980, trước đây người ta thường dùng thuật ngữ “nhân sự”. Nguồn Nhân sự hàm ý con người như là ngồn lực duy nhất có khả năng gia tăng về năng lực. Theo Giáo trình Quản trị Nhân sự của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2010: “Nguồn Nhân sự của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó” [ThS.
Nguyễn Vân Điềm, PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân (2010).Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội]. Như vậy, nguồn Nhân sự chính là nguồn lực về con người. Nhân sự được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm cả thể lực và trí lực.
Thể lực chỉ tình trạng sức khoẻ của con người. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, tài năng, năng khiếu, quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Thể lực của con người có giới hạn nhưng trí lực của con người là kho tàng còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Hiện nay, nguồn Nhân sự là được các nhà quản lý nhìn nhận một cách khách quan và được coi là tài sản quan trọng nhất của tổ chức vì nó là nguồn lực duy nhất tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân và giúp tạo ra sức mạnh riêng có của tổ chức.
Trong tổ chức, nhu cầu về nguồn Nhân sự là nhu cầu sử dụng lao động cho các vị trí làm việc, công việc, thậm chí các nghề nghiệp khác nhau. Do đó, nguồn Nhân sự của một tổ chức sẽ có sự tương ứng với số lượng và cơ cấu công việc của tổ chức đó. Trong quá trình hoạt động, các tổ chức thường mong đợi các nhân viên của mình làm việc hiệu quả, có trách nhiệm cao và gắn bó với tổ chức. Nguồn Nhân sự bao gồm toàn thể những người lao động mà tổ chức có thể huy động để thực hiện chức 4 năng, nhiệm vụ của tổ chức [ThS.
Nguyễn Vân Điềm, PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân (2010).Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội]. Với quan điểm này nguồn Nhân sự của một tổ chức không chỉ bao gồm những lao động cơ hữu của tổ chức mà còn bao gồm những người lao động ngoài tổ chức mà tổ chức đó có thể huy động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó. Sự hoà hợp giữa nhu cầu và nguồn Nhân sự được thể hiện trên hai phương diện: định lượng nghĩa là giải quyết vấn đề biên chế, cố gắng giảm thiểu tình trạng thừa hoặc thiếu lao động và định tính nghĩa là giải quyết vấn đề năng lực và động cơ lao động, cố gắng làm giảm thiểu tình trạng trình độ chuyên môn nghề nghiệp không phù hợp với công việc, hoà hợp động cơ lao động và nhu cầu lao động của nhân viên với những yêu cầu mà công việc đặt ra trong tương lai.
Khi nói tới nguồn nhân sự, người ta thường đề cập đến số lượng và cơ cấu của nguồn Nhân sự trong tương quan với cơ cấu về nghề và công việc của tổ chức. Hay nói cách khác là sự phù hợp giữa cơ cấu Nhân sự và cơ cấu nghề nghiệp và công việc của tổ chức. Thông thường cơ cấu nguồn Nhân sự được xem xét theo các giác độ như cơ cấu theo trình độ chuyên môn đào tạo, cơ cấu theo nghề, cơ cấu thng theo thâm niên (kinh nghiệm công tác), cơ cấu theo giới tính, v.v… Trong luận văn, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm sau: Nguồn Nhân sự của tổ chức là toàn bộ những người lao động làm việc cho tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Nguồn Nhân sự của tổ chức cần có số lượng và cơ cấu phù hợp với cơ cấu nghề và công việc của tổ chức đó.
Nguồn Nhân sự (Human Resource) nghĩa là những người lao động có sự chuẩn bị, có lòng chân thực và có khả năng hoàn thành các mục tiêu của tổ chức hay là người nằm trong tổ chức có khả năng tạo ra những giá trị cho hệ thống quản trị đạt được yêu cầu đặt ra. Vì vậy, tổ chức có nhiệm vụ trong việc quản trị nguồn Nhân sự để thực hiện những công việc theo mục đích của tổ chức, đặt kế họach theo chiến lược quản trị con người để trợ giúp thêm. Nhân sự Hải Quan Nhân sự Hải quan cũng có chung những đặc điểm như một số ngành kinh tế khác. Cụ thể: Một là, Nhân sự ngành Hải quan là Nhân sự có chất lượng cao, đáp ứng những yêu cầu đa dạng về nhiệm vụ được giao.
5 Do tính chất phức tạp, đa dạng của hoạt động ngành hải quan, vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa là cơ quan kiểm soát chống buôn lậu và gian lận thương mại, là cơ quan phục vụ cung cấp các dịch vụ công cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên đòi hỏi công chức Hải quan vừa có trình độ am hiểu sâu về nghiệp vụ từ thông quan hàng hóa, kiểm soát chống buôn lậu, xử lý vi phạm trong lĩnh vực Hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế.Với những công việc này đòi hỏi cán bộ, công chức Hải quan mọi lúc, mọi nơi phải thích nghi và xử lý được tình huống; khi thì là người kiểm soát, quản lý, khi thì là người chấp hành, phục vụ và phải luôn thực hiện văn minh, thanh lịch, hiểu biết trong giao tiếp và ứng xử. Do đặc thù trên, khi một công chức mới tốt nghiệp đại học được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan Hải quan cấp cơ sở cũng đòi hỏi có thời gian tập sự và được đào tạo thêm về nghiệp vụ Hải quan mới có thể thực hiện được nhiệm vụ. Hai là, Nhân sự Hải quan có tính chuyên nghiệp cao, và có trình độ ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại. Sự chuyên nghiệp của Nhân sự Hải quan thể hiện ở sự thông thạo nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật, có chuyên môn sâu về các lĩnh vực, trị giá tính thuế, phân loại hàng hóa, xác định xuất xứ.
Nhờ đó, thời gian giải quyết thủ tục hải quan, thông quan hàng hóa tại cửa khẩu được rút ngắn. Sự chuyên nghiệp của Nhân sự hải quan con thể hiện ở khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thông quan hàng hóa bằng thủ tục hải quan điện tử. Sự chuyên nghiệp của Nhân sự hải quan còn được thể hiện ở việc áp dụng biện pháp quản lý rủi ro, kỹ năng tình báo trong việc kiểm tra thực tế hàng hóa. Thái độ phục vụ khách hàng theo phương châm "chuyên nghiệp-minh bạch- hiệu quả" và "tuyên ngôn phục vụ khách hàng" mà Tổng cục Hải quan mới ban hành cũng thể hiện tính chuyên nghiệp mà cán bộ công chức Hải quan phải thực thi.
Ba là, Nhân sự Hải quan là Nhân sự có thể lực và tinh thần tốt. Do đặc thù hoạt động của ngành Hải quan chủ yếu là ở các bến cảng, sân bay, các cửa khẩu biên giới, hải đảo, đồi núi cao xa xôi, hẻo lánh.nói chung là những nơi có điều kiện khí hậu, điều kiện tự nhiên phức tạp không thuận lợi. Ở những nơi đó nếu con người không có sức khoẻ, thể lực tốt thì họ không thể thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được. Mặt khác, nhiệm vụ của Hải quan cũng có tính đặc biệt.
Biểu hiện các đối tượng vì mục đích lợi nhuận tối đa, họ đã không từ những thủ đoạn bỉ ổi nào đó để 6 trốn chạy, luồn lách, dối trá, che dấu, thậm chí dùng cả vũ lực, vũ khí để chống lại lực lượng Hải quan. Hoặc tổ chức đông người để đánh, cướp lại hàng hoá buôn lậu của họ bị lực lượng Hải quan bắt giữ vào bất cứ thời gian nào kể cả ngày lẫn đêm. Trong những trường hợp đó, nếu lực lượng Hải quan không có thể lực, sức khoẻ, sự khôn khéo thì họ sẽ không thể hoàn thành được nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thu giữ hàng hoá của bọn gian lận thương mại, trốn lậu thuế. * Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động của ngành, Nhân sự Hải quan còn có những đặc điểm khác biệt sau: Một là, Nhân sự ngành Hải quan có phẩm chất, có lập trường vững vàng, nếu không dễ bị sa ngã trước sự cám dỗ của đồng tiền.
Đặc điểm hoạt động của Hải quan là chuyên tiếp xúc với khối lượng hàng hoá, tiền tệ lớn thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Vì lợi ích của mình do đó các đối tượng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của đối tượng buôn lậu qua cửa khẩu, biên giới, hải đảo, sân bay. sẽ tìm mọi cách hối lộ với giá trị lớn thậm chí là rất lớn, có khi cả đời của một công chức bình thường tổng số tiền lương của họn cũng không thể đạt được như vậy. Mặt khác, nếu không thực hiện được theo con đường hối lộ thì các đối tượng có thể dùng thủ đoạn doạ nạt sự an toàn về tính mạng không những của bản thân cán bộ công chức Hải quan mà thậm chí đe doạ cả tính mạng của gia đình người thân của lực lượng hải quan.Trước những thủ đoạn đó nếu cán bộ Hải quan không có phẩm chất tốt, không có lập trường vững vàng thì chắc chắn sẽ rất dễ rơi vào những cạm bẫy, cám dỗ của đồng tiền, làm thiệt hại lớn đến lợi ích của tập thể, của xã hội.
Hai là, Nhân sự Hải quan nắm chắc pháp luật về Hải quan, đặc biệt là luật về hàng hoá xuất, nhập khẩu và luật thuế về hàng hoá xuất, nhập khẩu. Nhiệm vụ cơ bản nhất của Hải quan là tổ chức thực hiện các thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Với nhiệm vụ cơ bản đó, đòi hỏi Nhân sự Hải quan phải nắm bắt và hiểu rất chắc pháp luật về Hải quan.