Tổng quan nghiên cứu

Thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam đang trong giai đoạn tạo lập và chuyển dịch mạnh mẽ. Nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, việc tổ chức các hoạt động xúc tiến, kết nối cung - cầu công nghệ đóng vai trò là động lực then chốt. Khu vực phía Nam, với trung tâm đầu tàu là Thành phố Hồ Chí Minh, quy tụ hơn 500 viện nghiên cứu, trường đại học và trung tâm khoa học công nghệ, sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao với khoảng 5.000 thạc sĩ và hơn 80.000 cử nhân, kỹ sư. Đồng thời, Thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập mạng lưới hợp tác phát triển khoa học công nghệ với 26 tỉnh, thành phố trong khu vực.

Tuy nhiên, mối liên kết giữa các loại hình Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ phần lớn diễn ra rời rạc theo từng sự kiện, thiếu tính liên kết hệ thống và cơ chế theo dõi hậu sự kiện. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của các loại hình Techmart tại khu vực phía Nam trong giai đoạn 2000 - 2012, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp liên kết đa chiều nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ.

Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc hiện thực hóa các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Điển hình là mục tiêu tăng trưởng giá trị giao dịch công nghệ bình quân đạt 15% đến 17% mỗi năm trong giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định 1244/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Dữ liệu thực tiễn từ hơn 40 kỳ Techmart được tổ chức tại phía Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đã ghi nhận 5.912 lượt đơn vị tham gia, chào bán 24.067 lượt công nghệ và thiết bị, đạt tổng giá trị hợp đồng và biên bản ghi nhớ trên 1.600 tỷ đồng. Những số liệu này khẳng định tiềm năng to lớn cần được khai phóng thông qua một cơ chế liên kết đồng bộ và chuyên nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu trúc công nghệ đa thành phần của Sharif (1986), xem xét công nghệ qua bốn yếu tố cốt lõi: phần kỹ thuật vật thể (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin ghi chép (Inforware) và phần thiết chế tổ chức (Orgaware). Trong bối cảnh các nước đang phát triển như Việt Nam, việc thương mại hóa công nghệ thường gắn liền với phần vật mang công nghệ là máy móc, thiết bị hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết thể chế thị trường công nghệ của Grif, nhấn mạnh ba trụ cột: hệ thống quy tắc pháp lý, cơ chế thực thi và các tổ chức trung gian. Mô hình nghiên cứu tích hợp cơ chế tương tác giữa năm chủ thể chính (mô hình 5 nhà), bao gồm: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và bảo trợ pháp lý; Nhà khoa học cung cấp giải pháp sáng tạo; Doanh nghiệp đóng vai trò bên cầu tiếp nhận đổi mới; Nhà băng tài trợ nguồn vốn tín dụng; và Nhà môi giới trung gian đảm nhiệm việc kết nối, định giá, thúc đẩy giao dịch.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Chuyển giao công nghệ theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Chợ công nghệ và thiết bị định kỳ; Chợ công nghệ thường xuyên (Techmart Daily); Chợ công nghệ trực tuyến (Techmart Online); và Sàn giao dịch công nghệ vận hành theo cơ chế thị trường mở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ các báo cáo định kỳ của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Cơ quan đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh và báo cáo quản lý từ 6 Sở Khoa học và Công nghệ trọng điểm phía Nam trong giai đoạn 2000 - 2012.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo khu vực địa lý và ngành nghề sản xuất. Cỡ mẫu khảo sát thực tế bao gồm 805 doanh nghiệp tại tỉnh Đồng Nai và 100 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đại diện cho các nhóm hình thức sở hữu: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia được thực hiện với hơn 15 cán bộ quản lý, nhà khoa học và đại diện đơn vị cung ứng công nghệ tại kỳ Chợ công nghệ và thiết bị quốc tế năm 2012.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phân tích định tính là nhằm làm rõ bức tranh thực chứng về năng lực công nghệ của doanh nghiệp, đo lường chính xác các chỉ số cung - cầu và đánh giá khách quan các lỗ hổng chính sách trong quản lý chuyển giao công nghệ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô giao dịch tại các kỳ Chợ công nghệ tăng trưởng ấn tượng nhưng còn thiếu tính bền vững. Tính đến năm 2012, cả nước đã tổ chức 50 kỳ Techmart, trong đó riêng khu vực phía Nam đóng góp 24 kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh và hàng chục kỳ cấp vùng. Dù tổng giá trị ký kết giai đoạn 2000 - 2010 vượt 1.600 tỷ đồng, phần lớn các hợp đồng dừng lại ở dạng biên bản ghi nhớ và thiếu cơ chế theo dõi thực hiện hậu Techmart.

Thứ hai, trình độ công nghệ của doanh nghiệp nội địa còn ở mức thấp và phân hóa sâu sắc. Kết quả điều tra trên 805 doanh nghiệp tại tỉnh Đồng Nai cho thấy hệ số năng lực công nghệ trung bình đạt 0,6917. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu trình độ công nghệ trung bình chiếm tới 70,93% (571 doanh nghiệp), trình độ lạc hậu chiếm 11,50% (93 doanh nghiệp), và chỉ có 17,57% (141 doanh nghiệp) đạt mức tiên tiến. Khi phân tích riêng khối doanh nghiệp trong nước (341 doanh nghiệp), hệ số năng lực công nghệ giảm xuống còn 0,551, với tỷ lệ đạt mức tiên tiến chỉ chiếm 4,84%, trong khi công nghệ lạc hậu chiếm 7,20%. Ngược lại, nhóm doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn công nghệ tiên tiến với tỷ lệ 12,73% trên tổng số mẫu khảo sát.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trên hệ thống Chợ công nghệ trực tuyến. Đến tháng 9 năm 2012, hệ thống Techmart Online ghi nhận 18.478 đơn vị đăng ký thành viên với 5.708 thông tin chào bán (gồm 3.952 công nghệ và thiết bị, 1.440 giải pháp phần mềm, 316 dịch vụ khoa học công nghệ), nhưng chỉ có 919 thông tin tìm mua được đăng tải. Tỷ lệ thông tin tìm mua chỉ bằng 16,10% so với nguồn cung, phản ánh sự thụ động của phía cầu.

Thứ tư, hạ tầng vật chất dành cho các điểm giao dịch thường xuyên còn rất hạn chế. Mô hình Techmart Daily duy nhất tại số 79 Trương Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có diện tích sàn trưng bày khiêm tốn khoảng 200 mét vuông, khiến việc giới thiệu các dây chuyền thiết bị quy mô lớn gặp nhiều trở ngại.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng các tổ chức dịch vụ trung gian chuyên nghiệp có đủ năng lực định giá, thẩm định chất lượng và hỗ trợ pháp lý chuyển giao công nghệ. Khảo sát 100 doanh nghiệp tại Đà Nẵng chỉ ra rằng có tới 79% doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ và 93% mong muốn hợp tác với các nhà khoa học. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất nằm ở khả năng tiếp cận vốn khi 62% doanh nghiệp cần hỗ trợ tài chính, 55% cần đào tạo nhân lực và 40% thiếu thông tin thị trường.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức hàng trăm hội chợ công nghệ mỗi năm, tiêu biểu như Hội chợ Công nghệ Thông tin CeBIT quy tụ hơn 4.000 doanh nghiệp từ 70 quốc gia nhờ kế hoạch xúc tiến chuẩn bị từ trước hơn một năm. Tại Hàn Quốc, Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Hàn Quốc (KTTC) duy trì Chợ thương mại hóa công nghệ TCM21 định kỳ 1 lần mỗi tuần, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa kết nối hơn 13.000 người dùng với 900 trang phân tích chuyên sâu cho 230 lĩnh vực công nghệ. Mô hình Hội chợ CAEXPO giữa Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN cũng đạt tổng giá trị giao dịch trên 12 tỷ USD qua 9 lần tổ chức nhờ mạng lưới quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương.

Để minh họa rõ nét các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng năng lực công nghệ (tiên tiến, trung bình, lạc hậu) giữa khối doanh nghiệp nội địa và FDI, kết hợp với bảng ma trận đối chiếu lưu lượng giao dịch giữa ba hình thức: Techmart định kỳ, Techmart Daily và Techmart Online.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện biện pháp hành chính và tổ chức mạng lưới điều phối. Thành lập Ban điều phối liên kết Chợ công nghệ khu vực phía Nam do Cục Công tác phía Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, kết nối 26 tỉnh, thành phố. Tiến hành lồng ghép các kỳ Techmart định kỳ vào các hội chợ triển lãm chuyên ngành như Vietbuild, Medipharm, Agromart nhằm mở rộng quy mô tiếp cận thị trường trong giai đoạn 2014 - 2020.

Thứ hai, chuẩn hóa biện pháp chuyên môn nghiệp vụ và phát triển dịch vụ trung gian. Xây dựng các tổ chức thẩm định giá công nghệ độc lập và mạng lưới chuyên gia tư vấn pháp lý chuyển giao. Thiết lập quy trình chăm sóc khách hàng giai đoạn hậu Techmart, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chuyển hóa các bản ghi nhớ thành hợp đồng thương mại hóa chính thức từ mức ước tính dưới 35% hiện nay lên đạt tối thiểu 60% vào năm 2020.

Thứ ba, triển khai chính sách tài chính và cơ chế kích cầu đột phá. Đẩy mạnh vai trò của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia và cấp tỉnh, thiết lập các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ lãi suất vay cho 79% doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới thiết bị. Phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng giá trị giao dịch mua bán công nghệ đạt từ 15% đến 17% mỗi năm.

Thứ tư, nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và truyền thông khoa học công nghệ. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ khu vực phía Nam tại số 1196 đường 3/2, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích sàn hiện đại. Đồng thời, liên thông cơ sở dữ liệu giữa cổng thông tin quốc gia techmartvietnam.vn với các cổng địa phương, số hóa và làm mới hơn 5.000 nguồn dữ liệu công nghệ chào bán trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ của 26 tỉnh, thành phố phía Nam có thể tham khảo luận văn để hoạch định chính sách liên kết vùng, tối ưu hóa quy chế tổ chức Techmart và xây dựng khung tiêu chí đánh giá hiệu quả sàn giao dịch công nghệ.

Nhóm viện nghiên cứu và trường đại học: Ban quản lý khoa học tại hơn 500 viện, trường phía Nam có thể sử dụng tài liệu để xây dựng chiến lược thương mại hóa kết quả nghiên cứu, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu hơn 5.700 nguồn cung công nghệ trực tuyến để tiếp cận đúng nhu cầu doanh nghiệp.

Nhóm doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Các hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có thể áp dụng các khuyến nghị để tìm kiếm công nghệ nội sinh phù hợp, cải thiện hệ số năng lực công nghệ từ mức trung bình 0,551 lên các chuẩn tiên tiến, đồng thời tận dụng các gói hỗ trợ tài chính từ Nhà nước.

Nhóm nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Kinh tế có thể khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát từ 805 doanh nghiệp để làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu về đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình Techmart đóng vai trò gì trong phát triển thị trường khoa học công nghệ Việt Nam? Techmart là cầu nối trực tiếp giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, tạo không gian minh bạch cho hoạt động mua bán công nghệ. Qua hơn 40 kỳ tổ chức tại phía Nam, Techmart đã kết nối thành công 5.912 lượt đơn vị tham gia, thúc đẩy hơn 1.600 tỷ đồng giao dịch ký kết, giúp giảm thiểu chi phí tìm kiếm cho doanh nghiệp.

Tại sao có sự chênh lệch lớn giữa bên cung và bên cầu trên Techmart Online? Dữ liệu cho thấy tỷ lệ thông tin tìm mua chỉ chiếm 919 tin so với 5.708 tin chào bán. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp còn e ngại bộc lộ bí mật công nghệ, thiếu kỹ năng khai thác thông tin trực tuyến và hệ thống dữ liệu chào bán chưa được cập nhật thường xuyên để đáp ứng đúng nhu cầu thực tế.

Doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp khó khăn lớn nhất nào khi đổi mới công nghệ? Rào cản lớn nhất của doanh nghiệp nội địa là hạn chế về vốn và thông tin, khi có tới 62% doanh nghiệp khảo sát tại Đà Nẵng cần hỗ trợ vốn vay. Bên cạnh đó, hệ số năng lực công nghệ của khối nội địa chỉ đạt 0,551, khiến việc tiếp thu công nghệ cao gặp nhiều trở ngại.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng ngay cho hệ thống Chợ công nghệ phía Nam? Mô hình chợ công nghệ định kỳ hàng tuần TCM21 của Hàn Quốc với cơ sở dữ liệu hơn 13.000 người dùng là bài học điển hình. Việt Nam cần chuyển đổi Techmart từ sự kiện ngắn ngày sang vận hành sàn giao dịch mở thường xuyên, kết hợp chặt chẽ các khâu: cung cấp, thẩm định và đầu tư công nghệ.

Mô hình liên kết 5 nhà giải quyết điểm nghẽn chuyển giao công nghệ như thế nào? Mô hình kết nối chặt chẽ Nhà nước, Nhà khoa học, Doanh nghiệp, Ngân hàng và Nhà môi giới. Trong đó, Ngân hàng tháo gỡ rào cản tài chính cho 79% doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới, còn tổ chức trung gian đảm bảo thẩm định giá và theo dõi hợp đồng thành công sau sự kiện.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng hơn 40 kỳ Techmart tại phía Nam giai đoạn 2000 - 2010 với giá trị giao dịch vượt 1.600 tỷ đồng, khẳng định vị thế trung tâm chuyển giao công nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Chỉ rõ hạn chế then chốt về sự liên kết lỏng lẻo giữa 3 loại hình chợ (định kỳ, thường xuyên, trực tuyến) và tỷ lệ công nghệ tiên tiến của doanh nghiệp nội địa chỉ đạt mức khiêm tốn 4,84%.
  • Nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của các tổ chức trung gian, thẩm định giá và cơ chế tài chính nhằm hỗ trợ cho 62% doanh nghiệp đang thiếu vốn đổi mới thiết bị.
  • Đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp liên kết đồng bộ (hành chính, chuyên môn, tài chính, hạ tầng, truyền thông) phục vụ mục tiêu tăng trưởng giao dịch công nghệ từ 15% đến 17% mỗi năm.
  • Định hình lộ trình nâng cấp hạ tầng trọng điểm và số hóa mạng lưới thông tin công nghệ liên tỉnh đồng bộ hướng đến năm 2020.

Để thị trường khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp liên kết nêu trên, tạo bước đột phá vững chắc cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong kỷ nguyên mới.