Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Hmông ở Bản Lầu Chương 3: Biến đổi sinh kế của người Hmông ở Bản Lầu từ Đổi mới Chương 4: Một số yếu tố tác động đến biến đổi sinh kế của người Hmông ở Bản Lầu 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tộc người Hmông từ lâu đã là một đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước, trong đó, các nhà dân tộc học và nhân học có sự quan tâm hơn đặc biệt đến tộc người này ở nhiều góc độ. Có thể nói, ở Việt Nam, việc nghiên cứu các dân tộc thiểu số được đẩy mạnh từ những năm đầu 60 của thế kỷ trước và cho đến nay đây là chủ đề quan trọng của ngành Nhân học. Riêng đối với tộc người Hmông, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố nổi bật là một số nghiên cứu tôi xin tổng quan lại dưới đây.
Hai tác giả Cư Hòa Vần - Hoàng Nam (1994),Dân tộc Mông ở Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội đã nói khá chi tiết về dân tộc Mông ở Việt Nam, trong đó giới thiệu khái quát về tang ma của người Mông như các nghi lễ, từng phong tục trong tang ma của đồng bào Mông trắng ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Hay tác giả Trần Hữu Sơn (1996), Văn hóa Hmông, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,cũng đã đi sâu mô tả và phân tích về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Hmông ở Lào Cai, qua đó nêu những yếu tố mới trong đời sống văn hóa tinh thần của người Hmông ở Lào Cai.Bên cạnh đó cuốn Những đỉnh núi du ca, một lối tìm về cá tính H’Mông(2014) của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến cũng đi sâu tìm hiểu bản sắc tộc người Hmông (Hmông là gì; khi chọn đỉnh núi để cư trú, Hmông là thế nào và khi cầm súng để tự vệ, Hmông là ai,…), xem xét cá tính Hmông trong hệ thống quyền lực của nhóm tộc người miền núi phía Bắc. Chính bởi trong mỗi hành động tộc người đều chứa một liên đới rộng hơn và sự dị biệt, nếu có, cũng không làm mất đi tính phổ quát, nên Nguyễn Mạnh Tiến vừa chọn các yếu tố nổi trội của Hmông, vừa tham chiếu các yếu tố ấy trong bức khảm văn hóa tộc người miền núi phía Bắc. Và từ đây, tái dựng những cách thức cộng sinh của hệ thống quyền lực này với người Việt ở các châu thổ trong suốt chiều dài lịch sử kiến tạo quốc gia.
Bên cạnh đó, còn nhiều nghiên cứu về tộc người Hmông khác như 4 Trong bài viết Dân tộc Miêu (Hmông ở Trung Quốc) (2005) của tác giả Nguyễn Duy Bính đã tìm hiểu những khái quát về cộng đồng tộc người Miêu ở Trung Quốc như: nhóm địa phương, ngôn ngữ, sinh hoạt kinh tế,văn hóa vật chất, y phục và trang sức, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần…, qua đó giúp người đọc có được một cái nhìn tổng quan, cũng như những mối liên hệ giữa người Hmông ở Việt Nam và người Miêu ở nước láng giềng. Công trình nghiên cứu khoa học cấp Viện Công cụ sản xuất nông nghiệp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ H’Mông–Dao (2000)của tác giả Nguyễn Thị Ngân đã làm rõ sự đa dạng về các loại hình công cụ sản xuất của dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn và xem xét sự thích ứng của các công cụ này với từng loại địa hình rẻo cao, rẻo giữa, rẻo thấp ở mỗi địa phương. Tác giả so sánh công cụ sản xuất của nhóm ngôn ngữ Hmông- Dao với các loại hình công cụ tương ứng của dân tộc khác. Ngoài ra, còn phải kể đến chương trình nghiên cứu “Những vấn đề kinh tế - xã hội vùng người Hmông Hoàng Liên Sơn” là chương trình hợp tác nghiên cứu tộc người dưới góc độ Dân tộc học phát triển đầu tiên của tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Các cán bộ nghiên cứu của tỉnh Hoàng Liên Sơn và Viện Dân tộc học đã tổ chức điền dã ở các huyện có đông người Hmông cư trú. Kết quả là chương trình nghiên cứu đã công bố 10 báo cáo tổng hợp và 15 báo cáo chi tiết theo 8 đề tài cụ thể như sau: Những tiềm năng thiên nhiên và phương hướng khai thác chúng; Những vấn đề dân cư và lao động; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của định canh, định cư; Việc giải quyết các vấn đề về lương thực; Các vấn đề về phát triển cây con có thế mạnh kinh tế cao; Mối quan hệ giữa xã hội cổ truyền và việc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; Các vấn đề về phát triển văn hóa - giáo dục; Những vấn đề về cán bộ. Chương trình đã đạt được những kết quả bước đầu, đặt ra một số vấn đề về cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng người Hmông những năm sau này. Riêng về chủ đề sinh kế và biến đổi sinh kế thì có khá nhiều công trình nghiên cứu.Nhiều tác giả nhận định rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân cũng như hộ gia đình.Các đề tài nghiên cứu về sinh kế và biến đổi sinh kế gồm: 5 Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đăkrông - Quảng Trị (2005) của tác giả Hoàng Mạnh Quân là một đề tài nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đề tài đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa đảm bảo cho sự phát triển vững chắc cho tương lai. Tác giả Trần Bình viết về “Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam” (2001) và “Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam” (2005). Trong hai nghiên cứu này, tác giả đã khái quát về môi trường tự nhiên và xã hội của hai vùng, cùng với đó là các hoạt động kinh tế của người Xinh Mun, Khơ Mú, Si La, La Hủ, Thái. Tây Bắc và người Tày, Dao, Sán Chay, Hà Nhì… ở vùng Đông Bắc, qua đó, tác giả đã khẳng định hoạt động kinh tế là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giá trị văn hóa tộc người, đồng thời thấy được sự khác biệt về thế mạnh, môi trường tiềm năng giữa các vùng khác nhau, góp phần tìm hiểu được quá trình giao lưu kinh tế - văn hóa của các tộc người, vai trò của tộc người với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, có thể kể đến tên các công trình: Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ chuyển đổi (2007)của tác giả Trần Văn Hà ; cuốn Công nghiệp hóa từ nông nghiệp (2001) của tác giả Đặng Kim Sơn … Hầu hết các tác phẩm đã đi vào vấn đề thực trạng phát triển kinh tế văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc; sự tiếp cận của đồng bào dân tộc thiểu số với vấn đề kinh tế, xã hội hiện đại, tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như sự tác động của văn hóa truyền thống đối với những vấn đề đó. Đồng thời những công trình đó cũng đưa ra những biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào trên cơ sở phát huy các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống, đặc biệt là những tri thức dân gian trong lĩnh vực sản xuất và hạn chế những lạc hậu của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Cuốn Phát triển nông thôn bền vững – chính sách đất đai và sinh kế: Một số kết quả nghiên cứu 2004 – 2007 của các tác giả Võ Tòng Xuân, Trần Thị Phương, 6 Lê Cảnh Tùng, được xuất bản năm 2008 với sự tài trợ của tổ chức SIDA/SAREC (Thụy Điển). Cuốn sách tập hợp những bài nghiên cứu liên quan tới chính sách đất đai và vấn đề sinh kế của người dân nông thôn như : sự phát triển của nông thôn và môi trường; các chính sách về đất đai cho người nghèo; ảnh hưởng của đô thị hóa đối với đời sống nông thôn… Một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến đề tài này như: Biến đổi sinh kế của người Mường vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình ở nơi tái định cư - Nghiên cứu trường hợp xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình(2008) của tác giả Trịnh Thị Hạnh.
Trong luận văn này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu sự thay đổi môi trường sinh kế của người Mường ở Hiền Lương, bên cạnh đó tìm hiểu sự thay đổi sinh kế và những thích ứng về văn hóa ở nơi tái định cư, đồng thời đưa ra các giải pháp để ổn định đời sống, phát triển sản xuất của người Mường ở nơi tái định cư và nhằm bảo tồn phát huy được các giá trị văn hóa của người Mường vùng lòng hồ Thủy điện Hòa Bình trong tái định cư. Luận văn thạc sỹBiến đổi sinh kế của người Tày ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay - Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng,tỉnh Lạng Sơn(2012) của tác giả Phạm Thị Thu Hà làm rõ sinh kế truyền thống và hiện tại của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Đặc biệt, nghiên cứu này đã phân tích cácyếu tố tác động đến sinh kế của người Tày và sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của cư dân ở đây. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp để ổn định đời sống, phát triển kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa của người Tày ở Tân Thanh.
Tác giả Nguyễn Văn Sửu công bố hai nghiên cứu:Tác động của Công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế người nông dân Việt Nam - Trường hợp một làng ven đô Hà Nội trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ III (2008) và Khung sinh kế bền vững - Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèotrên Tạp chí Dân tộc học số 2/2010.