Luận văn thạc sĩ: Bảo tồn và phát huy văn hóa Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu phục vụ phát triển du lịch - Tô Thị Nga

Bảo tồn văn hóa dân tộc Dao Thanh Phán là giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Bình Liêu. Khám phá cách kết hợp bảo vệ di sản truyền thống với tăng trưởng

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Tác giả

Tô Thị Nga

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

153
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Phán Bình Liêu

Người Dao Thanh Phán là một trong những dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Cộng đồng này sở hữu kho tàng văn hóa truyền thống phong phú, bao gồm phong tục tập quán, lễ hội, trang phục và nghệ thuật dân gian. Huyện Bình Liêu nằm ở vùng biên giới phía Đông Bắc, tiếp giáp Trung Quốc qua cửa khẩu Hoành Mô. Vị trí địa lý tương đối biệt lập giúp bản sắc văn hóa Dao Thanh Phán được bảo tồn nguyên vẹn qua nhiều thế hệ. Công tác bảo tồn văn hóa truyền thống gắn liền với phát triển du lịch cộng đồng. Nghị quyết của Đảng và chính sách nhà nước đã tạo hành lang pháp lý quan trọng. Các cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai nhiều chương trình cụ thể. Mục tiêu kép vừa giữ gìn di sản vừa thúc đẩy kinh tế xã hội được đặt lên hàng đầu.

1.1. Đặc điểm văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán

Người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu có nền văn hóa độc đáo với nhiều yếu tố đặc trưng. Trang phục truyền thống được may thủ công, thêu hoa văn tinh xảo mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Lễ hội truyền thống như ngày kiêng gió mùng 4 tháng 4 âm lịch là nét văn hóa riêng biệt. Vào ngày này, cộng đồng tụ họp tại chợ phiên, giao lưu hát pả dung đối đáp giao duyên. Phương thức mưu sinh chủ yếu dựa vào nông nghiệp nương rẫy và chăn nuôi. Luật tục trở thành quy phạm xã hội điều chỉnh hành vi cộng đồng.

1.2. Thực trạng bảo tồn văn hóa tại huyện Bình Liêu

Công tác bảo tồn văn hóa Dao Thanh Phán tại Bình Liêu đạt được nhiều kết quả tích cực. Sở Văn hóa Thể thao và Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh phối hợp chỉ đạo triển khai. Phòng Văn hóa Thông tin huyện và UBND các xã đóng vai trò cầu nối. Các cộng đồng tự quản tại thôn bản trực tiếp tham gia bảo vệ di sản. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và giao lưu văn hóa đang đặt ra thách thức lớn. Nhiều phong tục truyền thống có nguy cơ mai một dần theo thời gian.

II. Phân tích vấn đề bảo tồn văn hóa Dao Thanh Phán

Quá trình bảo tồn văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán đối mặt nhiều thách thức phức tạp. Kinh tế thị trường tác động mạnh mẽ đến lối sống và nhận thức cộng đồng. Giới trẻ có xu hướng rời bỏ bản làng, tiếp thu văn hóa hiện đại. Kiến thức truyền thống về nghề thủ công, lễ nghi tâm linh không được truyền dạy đầy đủ. Nguồn lực đầu tư cho bảo tồn còn hạn chế, chưa tương xứng với quy mô di sản. Cơ chế phối hợp giữa các chủ thể bảo tồn thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Hoạt động nghiên cứu khoa học về văn hóa Dao Thanh Phán chưa được đẩy mạnh. Tình trạng sao chép, biến dạng văn hóa trong khai thác du lịch diễn ra phổ biến. Công tác thanh tra kiểm tra việc thực hiện chính sách văn hóa chưa thường xuyên.

2.1. Thách thức từ quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa

Hiện đại hóa và đô thị hóa tạo áp lực lớn lên bản sắc văn hóa Dao Thanh Phán. Giao thông phát triển mở rộng giao lưu văn hóa, kéo theo sự du nhập văn hóa ngoại lai. Giới trẻ ưu tiên học tiếng phổ thông, bỏ quên tiếng Dao và chữ viết truyền thống. Nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, may trang phục dần mai một. Kinh tế cửa khẩu Hoành Mô thúc đẩy thương mại nhưng ảnh hưởng đời sống văn hóa bản địa. Cộng đồng cần giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa.

2.2. Hạn chế trong cơ chế quản lý và nguồn lực bảo tồn

Cơ chế quản lý bảo tồn văn hóa tại Bình Liêu còn nhiều bất cập. Nguồn kinh phí phân bổ cho hoạt động bảo tồn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở thiếu chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu. Việc phối hợp giữa Sở Văn hóa, Sở Du lịch và chính quyền địa phương chưa nhịp nhàng. Các dự án bảo tồn thường mang tính thời vụ, thiếu chiến lược dài hạn. Nghiên cứu khoa học về văn hóa Dao Thanh Phán chưa được đầu tư đúng mức. Cần cải thiện toàn diện hệ thống quản lý và phân bổ nguồn lực.

III. Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa Dao Thanh Phán

Bảo tồn văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện. Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ cộng đồng bảo vệ di sản văn hóa. Thứ hai, tăng cường nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Thứ ba, đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở. Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tư liệu hóa các giá trị văn hóa truyền thống. Thứ năm, phát triển du lịch cộng đồng gắn liền với bảo tồn bản sắc dân tộc. Thứ sáu, ứng dụng công nghệ số trong lưu trữ, giới thiệu văn hóa Dao Thanh Phán. Mỗi giải pháp cần triển khai cụ thể, có lộ trình và đánh giá hiệu quả định kỳ. Sự tham gia tích cực của cộng đồng người Dao là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

Du lịch cộng đồng là hướng đi hiệu quả kết hợp bảo tồn và phát triển kinh tế. Mô hình du lịch homestay tại các bản làng Dao Thanh Phán thu hút du khách. Du khách trải nghiệm trực tiếp phong tục, ẩm thực, lễ hội truyền thống. Doanh thu từ du lịch tạo động lực cho cộng đồng gìn giữ bản sắc. Cần xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng như tour trải nghiệm ngày kiêng gió. Đào tạo hướng dẫn viên địa phương am hiểu văn hóa dân tộc. Phát triển du lịch bền vững, tránh thương mại hóa làm mất giá trị nguyên bản.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và giới thiệu văn hóa

Công nghệ số mở ra cơ hội mới cho bảo tồn văn hóa Dao Thanh Phán. Số hóa tư liệu văn hóa giúp lưu trữ lâu dài, dễ dàng truyền bá. Xây dựng cơ sở dữ liệu về phong tục, lễ hội, trang phục, ngôn ngữ người Dao. Sử dụng mạng xã hội, website giới thiệu văn hóa đến du khách trong và ngoài nước. Ứng dụng công nghệ thực tế ảo cho trải nghiệm văn hóa trực tuyến. Quay phim, chụp ảnh tư liệu hóa các nghi lễ truyền thống. Công nghệ hỗ trợ đắc lực cho giáo dục, truyền dạy văn hóa cho thế hệ trẻ.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn bảo tồn văn hóa Dao Thanh Phán

Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu là nhiệm vụ cấp thiết. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch. Cộng đồng người Dao Thanh Phán sở hữu kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng, mang bản sắc riêng. Thực trạng bảo tồn đạt kết quả bước đầu nhưng còn nhiều hạn chế, thách thức. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm hoàn thiện chính sách, tăng cường nguồn lực, ứng dụng công nghệ. Phát triển du lịch cộng đồng là hướng đi chiến lược, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng. Ứng dụng thực tiễn cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân địa phương. Sự tham gia chủ động của cộng đồng người Dao là chìa khóa thành công. Nghi cứu này đóng góp vào kho tàng tri thức về bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, nghiên cứu bổ sung kho tàng tri thức về bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số. Về thực tiễn, kết quả cung cấp cơ sở khoa học cho chính quyền địa phương hoạch định chính sách. Nghi cứu đề xuất mô hình bảo tồn gắn với du lịch cộng đồng khả thi. Bài học kinh nghiệm từ Bình Liêu có thể áp dụng cho các vùng dân tộc thiểu số khác. Đào tạo cán bộ văn hóa cơ sở được xem là giải pháp then chốt.

4.2. Định hướng phát triển bền vững văn hóa Dao Thanh Phán

Phát triển bền vững văn hóa Dao Thanh Phán cần chiến lược dài hạn, tầm nhìn xa. Xây dựng thương hiệu văn hóa Bình Liêu gắn với du lịch sinh thái, cộng đồng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm bảo tồn từ các nước phát triển. Tăng cường liên kết vùng, phát huy thế mạnh kinh tế cửa khẩu Hoành Mô. Giáo dục ý thức bảo tồn văn hóa cho thế hệ trẻ từ bậc tiểu học. Huy động nguồn lực xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào bảo tồn văn hóa. Mục tiêu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người dao thanh phán huyện bình liêu tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I,Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) thì khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian nhất định” [22, tr. Như vậy, chúng tôi cho rằngdu lịch có nghĩa là hoạt động của con người nhằm mục đích thăm quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu, giải trí, có mối quan hệ phát sinh qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính 13 quyền và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình giao tiếp khách du lịch. - Khái niệmdu lịch văn hóa Cuốn sách Giáo trình du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ(Trần Thúy Anh chủ biên) có trích dẫn khái niệm du lịch của UNWTOnhư sau: Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương [1, tr. Và của ICOMOS: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích, di chỉ.

Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu và bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của đồng bào vì những lợi ích văn hóa - kinh tế - xã hội [1, tr. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) đã nêu như sau: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [23, tr. Tóm lại, du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu dựa vào những nét văn hóa truyền thống như không gian văn hóa, kiến trúc nhà cửa, trang phục truyền thống, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống…để tạo sức hút đối với khách du lịch trong nước và quốc tế.

Đối với 14 khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương, nơi diễn ra nhiều lễ hội văn hóa và các giá trị văn hóa khác. Việc thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng khách mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống với du lịch Du lịch và cộng đồng dân tộc, được đề cập khá chi tiết trong cuốn giáo trình Nhân học Bức khảm văn hóa châu Á-tiếp cận nhân học.Theo đó, không phải tới bây giờ, mà đã từ khá lâu, khi mà con người với cuộc sống thịnh vượng trong các đô thị họ đã xa rời bản ngã văn hóa của tổ tiên mình.

Bởi thế mà từ giữa thế kỷ trước, các luồng du lịch từ các khu vực phát triển đã có xu hướng truy tìm tính xác thực của văn hóa. Thông thường tính xác thực của văn hóa được lưu giữ tốt trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa.Ngành du lịch đã khai thác những nét văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số, biến chúng thành các sản phẩm du lịch để phục vụ cho du khách. Loại hình du lịch này phát triển không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho người bản địa, mà ở khía cạnh khác nó còn khơi dậy trong người bản địa niềm tự hào về truyền thống văn hóa của cha ông mình nên họ đã tích cực tái phục dựng lại văn hóa để phục vụ du lịch. Theo đó mà các nền văn hóa của người thiểu số vốn đã và đang mai một được tái phục hồi, đem lại ý nghĩa rất tích cực cho công tác bảo tồn văn hóa truyền thống [15, tr.

Loại hình du lịch này đã phát triển ở khắp nơi trên thế giới, ở Việt Nam cũng đã phát triển như Bản Lác, Mai Châu (Hòa Bình)… Ở Bình Liêu (Quảng Ninh), du lịch văn hóa trong khu vực người thiểu số, trong đó có người Dao Thanh Phán cũng đã xuất hiện trong những năm gần đây. 15 Đương nhiên không chỉ mang lại lợi ích mà loại hình du lịch này cũng thường gây nên những tác động tiêu cực, làm mai một văn hóa truyền thống của người bản địa và làm nảy sinh các vấn đề xã hội không mong đợi khác. Nhìn từ góc độ quản lý về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, loại hình du lịch này cần được nghiên cứu để có chiến lược và chính sách quản lý, phát triển phù hợp. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số chẳng những giữ gìn bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn giữ gìn nguồn vốn quý giá cho phát triển du lịch.

Khi ngành du lịch văn hóa phát triển sẽ thu hút du khách đến trải nghiệm văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số, điều này tạo cơ hội kinh tế hỗ trợ lại mức sống của người dân và có điều kiện bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống một cách tốt hơn. Văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống với phát triển du lịch 1. Văn bản của Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [57, tr.

Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, hội nghị lần thứ 5 đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là nghị quyết đầu tiên mang tính đường lối, chủ trương, chính sách của 16 Đảng trên lĩnh vực văn hóa, mà còn là tư duy lý luận văn hóa toàn diện và sâu sắc. Nghị quyết nêu lên vấn đề: Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trong đó, xác định hết sức coi trọng công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể [4, tr. Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số. Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đối với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số. Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số và tạo điều kiện để trí thức, cán bộ dân tộc thiểu số trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân.

Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số [4, tr. Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra “Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới”. Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) 17 khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội [14, tr. Ngày 9/6/2014, BCH Trung ương Đảng khóa XIđã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.Quan điểm của Nghị quyết khi đề cập đến bảo tồn và phát huy di sản văn hóa xác định: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học [5, tr.

Bên cạnh định hướng về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, Đảng ta còn ban hành nghị quyết về phát triển du lịch nhấn mạnh khai thác văn hóa truyền thống để phát triển du lịch. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/01/2017 Về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong đó xác địnhmục tiêu phát triển du lịch: Phát triển du lịch bền vững, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ môi trường và thiên nhiên, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Mục tiêu đến năm 2020, ngành du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực [8,tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ