CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHAN BIEN TREN BAO ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Phan biện và phản biện xã hội 1.1, Phản biện Phản biện không phải là vấn đề mới, xa lạ mà bản chất của hoạt động này xảy ra thường xuyên ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Phản biện, nếu hiểu theo cách chiết tự, nghĩa là “biện luận ngược”.
Như thế có thể hiểu phản biện là dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã có trước đó. Hiện nay phản biện cũng đã được hiéu theo xu thé phát triển, phản biện là đưa ra lập luận dé làm rõ đúng - sai của một van dé dang được quan tâm, đang tranh luận. Thuật ngữ phản biện có nhiều cách nhìn ở các bình diện khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt (2013), “Phản biện là việc xem xét, đánh giá chat lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi nghiệm thu dé tài” hay là “đánh giá chat lượng một công trình hoa học khi công trình được dua ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [58, tr.
Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg, ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn phản biện giám định xã hội của Liên hiệp hội khoa học Việt Nam thì phản biện được hiểu là “Ho động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến về sự phù hợp của nội dung dé án đối với các mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đâu hoặc thực trạng đặt ra” [46]. Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Dang, thì “Phản biện là nhận xét, đánh gid, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau” [10, tr. Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động tác giả Nguyễn Văn Dững cho rang: “Phản biện tức là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó, phản biện có 14 nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình, đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết dé tiếp tục hoàn thiện và cuối cùng khẳng định rằng công trình đó đạt được những tiêu chí khoa học can thiết không.
Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận dé bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác ” [17, tr. Những diễn đạt khác nhau trên đây, chung quy lại đều đồng nhất ở điểm: Phản biện là hoạt động của một chủ thể (cá nhân hay tổ chức) nhằm thâm định, đánh giá chất lượng hay giá trị khoa học của một sản phẩm khoa học của cá nhân hay tô chức khác. Hoạt động phản biện diễn đạt mối quan hệ hai chiều: một bên là chủ thé phản biện và bên kia là đối tượng phản biện.
Nội dung phản biện là sản phẩm khoa học (gồm công trình, phát minh, đề án, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, đề tài khoa học. Trách nhiệm của chủ thé phản biện là phải đưa ra những lý lẽ, cơ sở khoa học dé luận chứng cho việc đánh giá, nhận xét, xác định giá trị của sản phẩm khoa học. Trong đề tài này thuật ngữ “phản biện” được dùng với ý nghĩa là sự phản hồi ý kiến có biện luận của tổ chức, cá nhân về một van dé gi do nham dong ý nó, hoàn thiện hoặc bổ Sung dé hoàn thiện hoặc bác bỏ vấn dé đó, đưa nó đến gan nhất với chân lý, mang lại lợi ích nhiều hơn, phù hop với mục tiêu dé ra. Phản biện xã hội PBXH không phải là hoạt động mới chỉ xuất hiện ở nước ta mà nó đã xuất hiện trong lịch sử hàng nghìn năm về trước.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ sau khi dời Hoa Lư về Đại La, trong tác phẩm Chiếu dời đô, sau khi nêu rõ những lý do, những điều kiện, lợi thế về điểm định đô mới là Đại La, vua Lý Thái Tổ đã hỏi ý kiến của các quan đại than trong triều về quy định quan trọng này: “.xem khắp nước Việt đó là nơi thang đại, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sử mãi muôn đời. Trâm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Ở thé ki XIII đưới thời nhà Trần, trước họa xâm lược lần thứ 2 (năm 1284) của giặc Nguyên Mông, triều đình đã mở Hội nghị Diên Hồng. Nội dung chính 15 của hội nghị, vua — tôi và các bô lão đại diện cho tram ho không phải ban đến chiến lược, chiến thuật quân sự mà chỉ bàn: “nên đánh hay nên hòa”.
Chính vì thế Hội nghị Diên Hồng vốn được xem như Hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Phát huy tinh thần này, các triều đại về sau như: Lê Lợi, Quang Trung đều đã đánh tan được quân xâm lược phương Bắc. Sau khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, rồi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thường xuyên phát huy tinh thần dân chủ, “lấy dan làm gốc, tat cả lợi ích đêu vi nhân dân”. Do đó, những vấn đề hệ trọng liên quan đến quốc kế dân sinh đều được bàn bạc kỹ lưỡng trong tập thể Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương, chính phủ, thậm chí là lấy ý kiến của nhân dan,.
Ví dụ như: Cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên năm 1946, bau cử băng hình thức phô thông đầu phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất coi trọng việc tham gia, đóng góp ý kiến của nhân dân “không chỉ riêng viết sách, viết báo mà công tác gì muốn làm tot đêu phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. Như vậy, có thể thấy trong lịch sử nước ta, tư tưởng về phản biện và PBXH đã xuất hiện rất sớm. Đã có nhiều quan điểm, nhiều việc làm thé hiện tính phản biện của người dân về các chủ trương, quyết sách của triều đình trước đây hay công việc của Đảng, của chính phủ sau này.
Tuy nhiên, nó xuất hiện còn rời rạc, chưa có hệ thong và không có cơ chế dé thực hiện phản biện một cách rõ rang. Sau năm 1986 khi đất nước bước vào công cuộc đôi mới, chuyên từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xuất phát tử đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phát huy tinh thần dân chủ, coi trọng những ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, dé đảm bảo trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đều đáp ứng được nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Theo quy chế giám sát và PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các 16 đoàn thé chính trị - xã hội Ban hành kèm theo Quyết định số 217/QD- TW ngày 12/12/2013 của Bộ chính trị, thì “PBXH là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lỗi của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”.
Trong cuốn sách Phản biện xã hội (câu hỏi đặt ra từ cuộc sống), Nxb Đà Nẵng, năm 2006, tác giả Trần Đăng Tuấn cho rằng: “PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bồ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương an, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó”. Từ những lý luận về báo chí, du luận xã hội và thực tiễn đời sống báo chí hiện nay, khái niệm PBXH được xem xét trong môi trường rộng lớn và mối quan hệ giữa các cơ quan Dang, Nhà nước với báo chí, với công chúng va ngược lại. Tóm lại, PBXH là hoạt động phổ biến, cung cấp thông tin nhiều chiều đến với mọi người dân; đồng thời phát huy tinh than dân chủ xã hội, mọi người déu tham gia, góp ý, thảo luận hoặc biểu thị sự đông tình hay không dong tình trên cơ sở các lập luận mang tính khoa học và thực tiễn đối với tất cả các vấn đề trong xã hội liên quan đến nhiễu người. một cách đúng dan, hợp lý và đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng.
Nhà ở xã hội Khái niệm “NƠXH” bắt đầu xuất hiện từ các nước Anh, Mỹ, Canada vào những năm 1970 và dần dần lan rộng ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc. Tại đó, “NƠXH” được hiểu là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kê. Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự mình kiếm được một chỗ ở. Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyên, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao động.
Loại nhà này trong nhiều trường hợp được gọi là nhà từ thiện, và đa phần là của nhà nước, ngoài ra còn có các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện tham gia từng phan dé duy trì cuộc sống của những người sống trong NƠXH. Tùy từng hoàn cảnh cụ thê mà người đăng ký ở nhà xã hội có người có thê được miễn phí hoàn toàn 17 hoặc cho thuê với giá thấp. Phần tiền thuê này thường được các tổ chức từ thiện như nhà thờ, tổ chức phi chính phủ, các mạnh thường quân chỉ trả qua các quỹ mà không chỉ trả trực tiếp cho người sử dụng vì sợ họ tiêu phung phí. Tại Việt Nam, khái nệm NOXH đã được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây: Theo TS Ngô Lê Minh với bài viết “Nhà ở xã hội Từ kinh nghiệm thực tế ở Thượng Hải đến Việt Nam” đăng trên Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam, thang 5/2013 định nghĩa: “NỢXH là loại nhà ở dành cho những gia đình nghèo, có thu nhập trung bình thấp, được thuê hoặc mua với giá uu đãi, người mua phải đáp ứng một số điều kiện đặc thù do chính quyên thành phố quy định, tuân theo các quy định và pháp luật của Nhà nước” [36, tr.
Theo Điều 3, khoản 2 của Nghị định 71/2010/NĐ-CP, pháp luật nước ta quy định như sau: “NOXH là nhà ở do Nhà nước hoặc t6 chức, cá nhân thuộc các thành phan kinh tế dau tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điêu 53, Điều 54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định” [39].