Đặt vấn đề Ở Việt Nam 80% dân số làm nghề sản xuất nông nghiệp, được phát triển theo hai ngành lớn đó là ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Trong những năm qua ngành chăn nuôi ở nước ta đang được quan tâm và phát triển. Trong đó có ngành chăn nuôi bò đã đem lại những lợi nhuận lớn cho người chăn nuôi. Theo thống kê năm 2017 tổng đàn bò cả nước khoảng trên 5,6 triệu con, cung ứng một lượng thịt và sữa lớn cho nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay đang nuôi khoảng trên 300 nghìn con và cung cấp gần 900.000 tấn sữa tươi, đáp ứng khoảng 40 - 50% nhu cầu về sữa trong cả nước. Những năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế của đất nước, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được cải thiện thì nhu cầu tiêu thụ thịt bò của người dân ngày càng cao cả về số lượng cũng như chất lượng. Do nhu cầu tiêu thụ thịt bò trong nước tăng nhanh, do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá bò giống cùng với sản phẩm chế biến từ thịt bò trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhiều hộ nông dân, trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi bò ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp.
Mấy năm gần đây được sự quan tâm của các ngành, các cấp, nhiều nỗ lực chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi tới sản xuất của hệ thống khuyến nông, hệ thống các trường đào tạo., quy trình kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến được giới thiệu một cách có hệ thống tới hộ nông dân và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ở nước ta nuôi bò hướng thịt đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và đã phần nào đáp ứng được yêu cầu người tiêu thụ thịt trong nước cũng như n 2 phục vụ nhu cầu cho xuất khẩu. Việc đánh giá khả năng sinh sản đang là đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn và nhân giống vật nuôi. Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì chúng ta còn gặp không ít khó khăn về kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và tình hình dịch bệnh diễn ra trên đàn bò còn nhiều phức tạp.
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi bò ở Việt Nam, em đã thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn bò cái sinh sản tại trại bò thuộc khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu đề tài - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đàn bò cái sinh sản tại trại của khoa Chăn nuôi Thú y. - Xác định tình hình dịch bệnh và cách phòng trị một số bệnh trên đàn bò cái sinh sản tại trại. - Nắm vững kiến thức về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho bò cái sinh sản qua từng giai đoạn.
- Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế.2 Yêu cầu của chuyên đề - Biết cách nuôi dưỡng, chăm sóc đàn bò tại trại - Biết cách chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh đàn bò tại trại n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VÀ TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trại bò thuộc khoa Chăn nuôi Thú y nằm trong khuôn viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 4 km về phía Tây. Ranh giới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được xác định như sau: + Phía Đông giáp phường Quang Trung và phường Đồng Quang + Phía Tây giáp với xã Quyết Thắng và xã Phúc Hà + Phía Nam giáp với phường Tân Thịnh và phường Thịnh Đán + Phía Bắc giáp với phường Quán Triều và phường Quang Vinh.
Tổng diện tích của trại là 9.000 m2, trong đó diện tích xây dựng chuồng trại là 80 m2, diện tích sân thả bò là 350 m2, còn lại là diện tích đất trồng cỏ làm thức ăn cho bò. Vườn cỏ dùng cho đàn bò của trại gồm 3 giống cỏ chính đó là: Cỏ VA06, TD58 và cỏ mombasa ghine. Hiện mới trồng thêm 2 giống cỏ voi mới đó là cỏ voi xanh Thái Lan pennisetum purpureum và cỏ voi lùn Đài Loan panicum sarmentosum sp hay pennisetum purpuseum sp. Điều kiện khí hậu và thủy văn Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng dựa vào địa hình, khí hậu mùa đông ở Thái Nguyên được chia thành 3 vùng rõ rệt: + Vùng lạnh nằm ở phía Bắc huyện Võ Nhai.
+ Vùng lạnh ôn hòa gồm các huyện Định Hoá, Phú Lương và phía nam của huyện Võ Nhai. + Vùng nóng gồm: TP Thái Nguyên, Sông Công, Phổ Yên và các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Đại Từ. n 4 Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 21,5 - 23°C (tăng dần từ Đông sang Tây và bắc vào nam); Sự chênh lệch giữa tháng ấm nhất (tháng 6: 28,9°C) và tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C. Đã từng đo được tại Thành phố Thái Nguyên nhiệt độ cao nhất là 41,5°C và thấp nhất là 3°C.
Số giờ nắng trong năm dao động từ 1.750 giờ (giảm dần so với hướng Đông sang phía Tây) và phân bố tương đối đồng đều các tháng trong năm. Khí hậu Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp. Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng bò cái sinh sản 2.
Tiêu chuẩn ăn đối với bò mang thai - Nhu cầu duy trì: nhu cầu duy trì của bò cái được tính theo thể trọng của con vật. - Nhu cầu nuôi thai: căn cứ vào thời điểm mang thai mà cho ăn phù hợp với giai đoạn phát triển của thai + Bò chửa giai đoạn 1: từ 0 - 4 tháng thì bổ sung thêm 0,2 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng cơ thể. + Bò chửa giai đoạn 2: cứ 5 tháng đến đẻ thì bổ sung thêm 0,3 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng cơ thể. + Bò cái chửa kết hợp với cày kéo nặng thì 1 ngày cho ăn thêm 2 đơn vị thức ăn.
+ Bò cái chửa kết hợp cày kéo nhẹ 1 ngày ăn thêm 1,5 đơn vị thức ăn + Bò cái chửa lứa đầu 1 ngày cho ăn thêm 1 đơn vị thức ăn. n 5 Đối với bò cày kéo chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên trong thời gian mang thai thì phải bổ sung thêm thức ăn tinh tỷ lệ 10-15% trên tổng lượng thức ăn trên ngày. Chú ý nên hạn chế cho bò ăn những thức ăn thô khó tiêu như: Rơm rạ, để tránh ảnh hưởng phát triển của thai. Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái mang thai Chăm sóc: - Bò có chửa chú ý 2 thời kỳ dễ bị sẩy thai: + Thời kỳ đầu (từ 1-2 tháng): Thời kỳ này dễ bị sẩy thai do tác động của các chất hoá học, độc tố trong thức ăn, độc tố do vi khuẩn.
Thời kỳ này phôi bào chưa bám chắc chắn với niêm mạc tử cung của bò mẹ thông qua nhau thai. Để đề phòng sảy thai ở thời kỳ này cần chú ý tới bệnh truyền nhiễm, phát hiện sớm và điều trị kịp thời. + Thời kỳ thai được 8-9 tháng: Giai đoạn này cần chú ý đến những tác động cơ học vì thai đã lớn.Tác nhân hoá học ít tác động đến bào thai. - Nguyên tắc chung đối với gia súc có chửa: + Đối với bò cày kéo cần phải dừng lại, không đánh đập xua đuổi và không chăn thả ở những vùng có địa hình phức tạp.
+ Chế độ làm việc: Làm việc nặng - làm việc nhẹ - nghỉ. Giai đoạn đầu gia súc vẫn làm việc nặng được. Giai đoạn giữa giảm tần suất làm việc nặng xuống chuyển sang làm việc nhẹ và giai đoạn cuối cho gia súc nghỉ. + Chế độ chăn thả: Giai đoạn đầu có thể chăn thả ở bãi chăn xa, giai đoạn giữa chỉ chăn ở những bãi gần và giai đoạn cuối chăn tại chuồng.
+ Chăn ở các địa hình: Giai đoạn đầu có thể chăn ở các vùng có địa hình dốc, giai đoạn giữa chăn gia súc ở các địa hình bằng phẳng và giai đoạn cuối sẽ chăn ở các bãi sân chơi ở cạnh chuồng. n 6 + Bò trong thời gian mang thai không nên chăn thả những nơi nhiệt độ quá nóng, nhiệt độ quá lạnh. Đối với bò chăn thả hoàn toàn cần chăn ở những bãi chăn mà có bóng mát. - Quản lý: - Chế độ ăn đối với bò có chửa phải chia nhỏ bữa ăn, ít nhất chia làm 3 bữa/1 khẩu phần thức ăn, tránh tập trung khẩu phần ăn vào 1 bữa.
Quá no dẫn đến hiện tượng chèn ép bào thai và các bệnh về đường tiêu hóa và hô hấp - Nếu nuôi bò chăn theo đàn lớn thì cần tách riêng những bò cái đang chửa sang 1 chuồng riêng, không nhốt lẫn bò chửa và bò thường dễ gây sẩy thai do tác động cơ học. - Căn cứ vào lịch phối giống trước khi đẻ 15 ngày (8 tháng 20 ngày) phải tách riêng bò cái có chửa sắp đẻ để dễ chăm sóc và trực đỡ đẻ cho bò. Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái đẻ - Hiện tượng bò sắp đẻ: Khi bò sắp đến ngày đẻ thường quan sát thấy các biểu hiện lâm sàng như sau: Bụng sệ xuống, hai bên gốc đuôi sụt xuống, sưng mông, niêm dịch chảy ra nhiều, trong suốt. Bò có biểu hiện chọn những nơi thoáng mát, bằng phẳng hay kín đáo để tránh những tác động của những con khác.
Có hiện tượng đứng nằm không yên là dấu hiệu rặn đẻ, càng gần ngày sinh tần suất rặn đẻ càng nhiều. Quá trình rặn đẻ có thể kéo dài 30 phút đến 1 giờ. - Đỡ đẻ cho bò: Khi bò bắt đầu có biểu hiện rặn đẻ thì người đỡ đẻ phải chuẩn bị như sau: Tay người đỡ phải rửa sạch và sát trùng bằng cồn 90 0. Trước hết kiểm tra xem thai thuận hay nghịch.
Nếu nghịch ta phải sửa lại thuận, trong trường hợp khó đẻ phải báo ngay cho cán bộ quản lý thú y can thiệp kịp thời. Khi vỡ ối, nước ối chảy ra và cũng là lúc bò rặn, thai sẽ được đẩy từ từ ra ngoài. Nếu bò rặn đẻ yếu thì ta tiến hành giúp bò kéo thai ra, nhớ kéo theo nhịp rặn của bò mẹ.