Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Các nghi lễ trong tang ma truyền thống. Một số giá trị văn hóa tộc người và sự biến đổi trong tang ma. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Các khái niệm cơ bản Tang ma: X.Tocarev trong cuốn Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng [65, tr. 56] và Lê Sĩ Giáo trong cuốn Dân tộc học Đại cương [18, tr.186) sử dụng thuật ngữ “ma chay” khi đề cập đến vấn đề này. Theo đó “Ma chay được dùng để biểu thị toàn bộ các lễ nghi tôn giáo có quan hệ với người chết và những tín ngưỡng gắn liền với những nghi lễ đó”. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt đinh nghĩa: “Tang lễ là các nghi lễ chôn người chết.
Tang là sự đau buồn khi có người thân vừa chết, lễ là lễ chôn cất người chết (an táng, mai táng), là dấu hiệu (áo, mũ, khăn,.) để tỏ lòng tiếc thương người chết” [49, tr. Phan Kế Bính cho rằng: Xét về mặt hình thức, tang ma hay tang lễ, ma chay là một hoạt động nghi lễ, tín ngưỡng, nhưng xét về mặt nội dung thì nó là của người sống trao gửi cho người chết [4.174] Phan Xuân Biên trong Văn hoá và xã hội người Raglai ở Việt Nam đã nhận định: “Tang ma là hình thức phổ biến rộng rãi ở hầu hết các dân tộc, các nghi lễ và tín ngưỡng liên quan tới người chết hoặc ít hoặc nhiều chiếm vị trí quan trọng trong tất cả các tôn giáo, từ những hình thái nguyên thuỷ đến những tôn giáo phức tạp nhất”. Đào Duy Anh trong cuốn: Việt Nam văn hoá sử cương cho rằng: Tang lễ là lễ đặt ra để tỏ lòng thương xót và kính thờ người chết 1, tr. 193 Nguyễn Thị Song Hà trong cuốn Nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình cho rằng: “Tang ma là thuật ngữ dùng để chỉ cách thức và nghi lễ liên quan đến người chết và những tín ngưỡng gắn liền với nghi lễ đó mà trọng tâm là làm thế nào để đưa linh hồn người chết về “an cư” ở thế giới bên kia” [20, tr.
11 Nguyễn Thị Ngân trong Luận văn Tiến sĩ: Tang ma của người Nùng Phàn Slình tỉnh Thái Nguyên cho rằng: „Tang ma là phức hợp các lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với người chết và các quy tắc ứng xử của người sống dành cho người chết. Nghi lễ tang ma là hệ thống các nghi lễ trong tiến trình tổ chức một đám tang” [43, tr. Một số học giả nước ngoài như H.River đã tiếp cận tang ma trong mối quan hệ giữa người sống - người chết- linh hồn người chết thông qua hệ thống các nghi lễ. Theo River, linh hồn của người chết và cơ thể của người chết có thể liên quan mang tính ẩn dụ và đó là chìa khóa để hiểu thể thức của các nghi lễ trong tang ma [20, tr.
Hay như khi nghiên cứu về tang ma, Durkheim cho rằng các nghi lễ và sự thờ cúng trong tang ma không chỉ đơn thuần là sự thể hiện sự tiếc thương và chuộc tội của người sống đối với người chết, để bình an tinh thần cho người chết mà còn có nguyên nhân xã hội, không chỉ trong phạm vi gia đình mà là cả toàn xã hội. Chẳng hạn tang ma của hầu hết các nền văn hóa không chỉ những người thân trong gia đình mà cả những người trong cộng đồng thậm chí mới quen biết cũng khóc lóc, buồn thảm… Đó là những hành vi chính thức, do phong tục đòi hỏi tất cả các thành viên trong cộng đồng, nhất là họ hàng, gia đình. Bởi khi có người chết, không chỉ gia đình bị suy yếu mà toàn bộ cộng đồng bị mất đi một thành viên, tức là một phần sức mạnh. Vào thời điểm đó, cộng đồng cần thông qua sự thờ cúng (nghi lễ tang ma) để tập hợp lại, để hồi sinh và để khẳng định bản thân [27, tr.15] Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà nội hàm của tang ma được lý giải, đề cập ở các góc độ khác nhau.
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận khái niệm “Tang ma” với nội hàm rộng: bao gồm tất cả các quan niệm, nghi lễ và ứng xử của người sống với người chết, giữa người sống với người sống, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng với từng cá nhân trong nó. 12 Nghi lễ: Theo Từ điển Tiếng Việt “Nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành một cuộc lễ” [49, tr. Từ điển Nhân học: “Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên. Thông thường, các nhà nhân học sử dụng “nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích bình quân chủ nghĩa.
Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động của con người. Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ hành động nào của con người cũng có khía cạnh nghi lễ” [66, tr. Victor Turner coi nghi lễ là hành vi được quy định có tính chất nghi thức dành cho những dịp, không liên quan đến các công việc có tính chất kỹ thuật hằng ngày, mà có quan hệ với các niềm tin vào đấng tối cao hay các sức mạnh thần bí. Những cuộc diễn trình nghi lễ như là những giai đoạn riêng biệt của quá trình xã hội mà qua đó các nhóm người điều chỉnh để phù hợp với những thay đổi bên trong và thích ứng với môi trường bên ngoài [27, tr.242-243] Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với cách tiếp cận nghi lễ của Nguyễn Công Hoan [25]: Nghi lễ có 4 yếu tố, trước hết, nghi lễ là một hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm một loạt các động tác có tính chất biểu tượng dưới dạng múa, ca, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số các đồ vật… Thứ hai, nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội; thứ ba, nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra, điều này có nghĩa là các thành viên trong một nền văn hóa nào đó có thể nhận ra nghi lễ qua một loạt các hoạt động, mặc dù có thể chưa thấy nghi lễ đó bao giờ; Cuối cùng, hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại” Văn hóa tộc người: Là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc 13 người này với tộc người khác.
Các yếu tố văn hoá tộc người là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, là vốn dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người, tâm lý dân tộc… Mỗi tộc người có nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động sinh kế, lối sống, nghi lễ, tôn giáo tín ngưỡng riêng, tạo thành đặc trưng của mỗi tộc người và để phân biệt tộc người này với tộc người khác [60, tr. Bản sắc văn hóa tộc người: là những biểu hiện cụ thể ở lối làm ăn, nếp sống, thế ứng xử thông qua các quan hệ và hoạt động xã hội tâm lý và ngôn ngữ. trong một hoàn cảnh tự nhiên và “không gian xã hội” cụ thể [54, tr 6] Kiêng kị: Theo từ điển tiếng Việt, kiêng kị là nể sợ, giữ gìn [49, 522], là sự cấm đoàn được chấp nhận mang tính lễ nghi để ngăn chặn việc tiếp xúc với một đồ vật, một người hay một hoạt động. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ Polinesia, nơi những cấm kị đóng vai trò quan trọng về mặt văn hóa.
Những cấm kị thông thường gồm những điều ngăn cấm, một số thức ăn nhất định, chạm vào người vua hoặc những người bị xã hội ruồng bỏ, dụng vào xác chết hoặc quan hệ tình dục với một số người nhất định [20, tr.25] Truyền thống: Là thói quen được hình thành từ lâu trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [49, tr.1055] Biến đổi: Biến đổi là sự thay đổi khác trước [49, tr. Biến đổi trong tang ma là những thay đổi về quan niệm, nhận thức của cộng đồng, thay đổi về ý nghĩa, quá trình thực hiện của các nghi lễ so với truyền thống. Việc biến đổi trong tang ma thường chịu ảnh hưởng của sự biến đổi xã hội. Cơ sở lý thuyết - Thuyết chức năng – cấu trúc: Theo A.Radchiffe Brown, khi tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau, cần phải nghiên cứu văn hóa của họ từ bên trong, có ý thức đối với giá trị của các nền văn hóa khác.
Chính vì vậy, thuyết chức năng có ý nghĩa với với nhân học ở chỗ, bất cứ văn hóa nào cũng được các nhà khoa học nghiên cứu dưới cái nhìn hiện thực các chức năng khác nhau. Thuyết 14 chức năng cấu trúc đòi hỏi khi nghiên cứu văn hóa của tộc người, nhất là nghi lễ đời người cần phải thấy được những giá trị văn hóa bên trong, những ý nghĩa sâu xa mà tộc người đó muốn thể hiện thông qua việc thực hành nghi lễ. Chẳng hạn, qua nghi lễ tang ma, có thể thấy được thế giới quan, nhân sinh quan, tình cảm, đẳng cấp xã hội… [20, tr.42] Thuyết chức năng cấu trúc được sử dụng trong luận văn nhằm tìm hiểu các đặc trưng văn hóa được thể hiện qua tang ma. Tang ma của người Cống được tổ chức theo một quy trình tương đối chặt chẽ, khá riêng biệt so với với tang ma của các tộc người khác.
Các nghi lễ, trò chơi trong tang ma của người Cống đều nhằm thể hiện những mục đích và ý nghĩa riêng cả ở góc độ cá nhân và cộng đồng. Thuyết chức năng: Theo Malinowski, văn hóa là tổng thể những đáp ứng đối với nhu cầu cơ bản của con người và nhu cầu sản xuất. Lý thuyết chức năng là lý thuyết của sự chuyển tải các nhu cầu của cơ thể - tức là mang tính cá thể - thành những nhu cầu có nguồn gốc văn hóa. Nhờ việc sử dụng mang tính tập thể của bộ máy huấn luyện, xã hội uốn nắn cá thể thành các nhân cách văn hóa.
Với các nhu cầu sinh lý và các quá trình tâm lý của anh ta, cá thể là nguồn gốc chính và là mục đích cuối cùng của mọi truyền thống, hoạt động và hành vi có tổ chức [52, tr.