Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ Văn học chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 36 01) của nghiên cứu sinh Lê Thị Hiền với đề tài "Khảo sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của người Thái ở Việt Nam", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế và TS. Nguyễn Thị Nguyệt, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyện thơ là thể loại có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học các dân tộc Việt Nam (bao gồm người Kinh và các dân tộc thiểu số). Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, việc nghiên cứu chuyên biệt về thể loại truyện thơ theo từng dân tộc chỉ mới đạt được kết quả ở hai công trình tiêu biểu: Truyện Nôm, lịch sử hình thành và bản chất thể loại của GS. Kiều Thu Hoạch và Truyện thơ Tày – nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của PGS. Vũ Anh Tuấn. Thể loại truyện thơ của các dân tộc thiểu số khác như Thái, Mường, Chăm, Mông chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống.

Ở Việt Nam, dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông, cư trú lâu đời tại các tỉnh Tây Bắc và miền núi Thanh Hóa, Nghệ An, sở hữu kho tàng truyện thơ phong phú về số lượng. Mặc dù đã có nhiều tác phẩm được sưu tầm, công bố từ năm 1957 đến năm 2011, khoảng một nửa số lượng văn bản lưu hành vẫn chưa được dịch sang tiếng phổ thông. Việc nghiên cứu truyện thơ Thái trước đó chủ yếu dừng lại ở các bài giới thiệu mở đầu, các tiểu luận phê bình đơn lẻ hoặc các đề tài luận văn thạc sĩ đi vào từng tác phẩm riêng biệt, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện diện mạo thể loại, đặc điểm thi pháp và đặt trong tương quan so sánh loại hình với truyện thơ Thái trong khu vực.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa toàn bộ tư liệu sưu tầm, công bố về truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam từ năm 1957 đến năm 2011, kết hợp bổ sung các tư liệu văn bản chữ Thái cổ thu thập qua điền dã thực tế.
  2. Làm rõ các đặc điểm thi pháp thể loại của truyện thơ Thái về kết cấu cốt truyện, loại hình nhân vật và nghệ thuật ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát các tác phẩm tiêu biểu.
  3. Bước đầu so sánh loại hình truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam với truyện thơ của người Thái ở Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan và Lào về nguồn gốc đề tài, kết cấu cốt truyện và nhân vật, từ đó lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam, tập trung khảo sát chuyên sâu 21 truyện thơ tiêu biểu đã được phiên âm và dịch sang tiếng phổ thông.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn cư trú của người Thái tại miền núi Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình) và miền Tây Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An); mở rộng không gian so sánh loại hình tới khu vực Vân Nam (Trung Quốc), Lào và Thái Lan.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các văn bản xuất bản từ năm 1957 (thời điểm công bố bản dịch Xống chụ xon xao đầu tiên của Điêu Chính Ngâu) đến năm 2011, cùng các tư liệu điền dã thu thập trong các năm 2010 và 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử sưu tầm và công bố truyện thơ Thái ở Việt Nam

Công tác sưu tầm, dịch thuật và xuất bản truyện thơ Thái trải qua quá trình hơn nửa thế kỷ với các mốc tư liệu cụ thể:

  • Năm 1957–1961: Năm 1957, bản dịch Xống chụ xon xao của Điêu Chính Ngâu được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Năm 1958, Sở Văn hóa khu tự trị Thái Mèo xuất bản bản khảo đính của Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Cầm Biêu (dài hơn bản năm 1957 là 30 câu). Năm 1960, Hà Hem, Lò Văn Cậy, Mạc Phi biên soạn bản tiếng Thái; năm 1961, Mạc Phi công bố bản dịch tiếng Việt có khảo dị và chú thích tại Nhà xuất bản Văn hóa.
  • Năm 1962–1964: Mạc Phi trích dịch Khun Lú nàng Ủa trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1962). Cùng năm, Sở Văn hóa khu tự trị Thái Mèo công bố bản in máy tiếng Thái dài 1.912 câu sưu tầm tại Mường La (Sơn La). Năm 1964, bản dịch đầy đủ Chàng Lú nàng Ủa của Mạc Phi được Nhà xuất bản Văn học ấn hành kèm phụ lục truyện cổ dân tộc Xá để đối chiếu.
  • Năm 1973–1979: Truyện thơ Khăm Panh do Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên dịch được Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1973 và Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc tái bản năm 1977. Năm 1979, tập 2 bộ Tuyển tập văn học dân tộc ít người (Nông Quốc Chấn chủ biên) tuyển chọn 4 truyện: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú nàng Ủa, Khăm Panh, Tóng Đón Ăm ca (Lò Văn Sỹ dịch).
  • Năm 1990–1999: Năm 1990, Ú Thêm (Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch tại Thanh Hóa) được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản. Năm 1992, Tuyển tập Văn học ít người ở Việt Nam (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên) in lại 3 truyện (Xống chụ xon xao, Ú Thêm, Chàng Lú nàng Ủa). Năm 1993, Hiến Hom Cầm Đôi (Lò Văn Cậy sưu tầm, Đinh Văn Ân dịch, gồm 1.520 câu) ra mắt. Năm 1996, cuốn Truyện thơ và đồng dao Thái ở miền Tây Nghệ An (La Quán Miên sưu tầm, dịch) in 4 tác phẩm: Trông Mường, Chim Phượng Hoàng, Tạo Hún Lu nang Ùa Piểm, Nàng Căm chàng Ín. Trong hai năm 1997–1998, bộ sách Truyện thơ trường ca dân gian Thái gồm 3 tập bằng chữ Thái cổ (gồm 23 truyện thơ) được Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hóa Thông tin – Thể thao Sơn La ấn hành. Năm 1999, Ý Nọi nàng Xưa (Lò Ngọc Duyên dịch) và tập V bộ Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam (Viện Văn học) được công bố.
  • Năm 2000–2011: Năm 2000, Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 42) và bản diễn ca song thất lục bát Tiễn dặn người yêu của Nguyễn Khôi xuất bản. Năm 2002, tập IV Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam in trích đoạn Út Ỏ về Kinh cùng 3 truyện thơ khác. Các năm tiếp theo lần lượt xuất bản: Tình anh em (Tô Hợp dịch, 2003), Cẩu tô cốp (Vi Hoàng Sương dịch, 2009), bộ Truyện thơ dân tộc Thái 3 tập gồm 5 tác phẩm: Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo Hoàng Tíu và nàng Công chúa, Lang Chang Nguyên, Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài (Đỗ Thị Tấc chủ biên, Điêu Văn Thuyên dịch, 2010), Tạo Sông Ca nàng Si Cáy (Lương Thị Đại dịch, 2010), Khủn Tinh (Quán Vi Miên dịch, 2011), Kén Kẻo (Vương Trung dịch, 2011).

Lịch sử nghiên cứu truyện thơ dân tộc thiểu số và truyện thơ Thái

  • Các công trình nghiên cứu tổng quát: GS. TSKH Phan Đăng Nhật trong Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (1981) đã phân chia truyện thơ thành 3 nhóm đề tài (tình yêu, nghèo khổ, chính nghĩa) và chỉ ra truyện thơ kết hợp giá trị tự sự và trữ tình từ dân ca và truyện kể. PGS. Võ Quang Nhơn trong Văn học dân gian các dân tộc ít người (1983) chia truyện thơ thành 4 nhóm theo phương thức diễn xướng, nguồn gốc kế thừa và tiếp thu ảnh hưởng văn học viết. PGS. Lê Trường Phát trong luận án Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số (1997) khảo sát 20 tác phẩm (gồm 6 truyện thơ Thái, 14 truyện thơ Tày), khẳng định mô hình kết cấu cốt truyện "kết thúc bi kịch" là nét đặc thù của truyện thơ các dân tộc thiểu số so với kết thúc có hậu của truyện Nôm Kinh. PGS. Vũ Anh Tuấn nghiên cứu hệ thống về thi pháp, nguồn gốc và sự phát triển của truyện thơ Tày (với 60 tác phẩm).
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về truyện thơ Thái: Điêu Chính Ngâu (1957) và Mạc Phi (1961, 1964) phân tích nội dung tư tưởng, tính chất hiện thực, tính cách nhân vật và nghệ thuật ngôn ngữ của Xống chụ xon xao, Khun Lú nàng Ủa; PGS. Vũ Ngọc Khánh (1973) phân tích chất thế sự và tính lịch sử của Khăm Panh; GS. Đặng Nghiêm Vạn (1990), PGS. Nguyễn Tấn Đắc (1991) và Vương Anh nghiên cứu nguồn gốc motif Ấn Độ (chàng Rothixen, người trần lấy vợ tiên) được Thái hóa trong Ú Thêm. Bên cạnh đó là các luận văn thạc sĩ chuyên đề của Lò Bình Minh (1989), Ngô Thị Thanh Quý (2001), Lò Xuân Dừa (2002), Nguyễn Ngọc Anh (2005), Nguyễn Ngọc Bảo (2005), Hoàng Thị Hương Loan (2006), Triệu Thị Phượng (2009).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án khắc phục tình trạng nghiên cứu phân tán, đơn lẻ bằng việc lập danh mục khảo sát 33 tác phẩm đã công bố, đối chiếu giữa bản chữ Thái cổ và 21 bản dịch tiếng phổ thông, đồng thời triển khai nghiên cứu thi pháp học kết hợp so sánh loại hình khu vực Đông Nam Á một cách có hệ thống.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm truyện thơ các dân tộc thiểu số: Tiếp thu định nghĩa của GS. TSKH Phan Đăng Nhật, PGS. Võ Quang Nhơn và GS. Nguyễn Xuân Kính, tác giả xác định: Truyện thơ các dân tộc thiểu số là những truyện kể bằng thơ, có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình, được lưu truyền chủ yếu bằng hình thức hát – kể trong diễn xướng văn nghệ dân gian, nội dung thường phản ánh số phận con người và tình yêu đôi lứa.
  • Khái niệm cấu trúc thể loại: Luận án vận dụng khung lý thuyết phân loại hai dạng cấu trúc cơ bản của truyện thơ dân gian: dạng "thơ ở trong truyện" (cốt truyện tâm lý, xâu chuỗi các mảng tâm tình dân ca theo trục sự kiện) và dạng "truyện ở trong thơ" (cốt truyện hành động phỏng theo truyện cổ tích, được khúc điệu hóa bằng ngôn từ và cảm xúc trữ tình).
  • Lý thuyết thi pháp học folklore: Sử dụng các khái niệm về mô hình kết cấu cốt truyện, motif truyện kể, loại hình nhân vật và ngôn ngữ diễn xướng dân gian.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp hệ thống: Đặt từng yếu tố cốt truyện, đề tài, nhân vật, ngôn ngữ của từng tác phẩm trong mối liên hệ hữu cơ của chỉnh thể thể loại truyện thơ Thái và hệ thống văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam.
  2. Phương pháp so sánh:
    • So sánh đồng đại giữa truyện thơ Thái với truyện Nôm của người Kinh, truyện thơ Tày, Mường, Mông, Chăm.
    • So sánh loại hình khu vực giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam với truyện thơ của các tộc người Thái tại Lào, Thái Lan và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
  3. Phương pháp điều tra thực địa (điền dã): Trực tiếp khảo sát, phỏng vấn nghệ nhân, nhà sưu tầm và thu thập văn bản chữ Thái cổ:
    • Tháng 12/2010: Tiếp xúc nhà Thái học Quán Vi Miên tại Nghệ An, sưu tầm truyện thơ Tạo Láng Xôm.
    • Tháng 6/2011: Khảo sát tại thành phố Sơn La cùng các nhà sưu tầm Lò Văn Lả, Hoàng Trần Nghịch, Cà Văn Chung, nhà thơ Cầm Hùng, thu thập các bản chữ Thái cổ chuyển thể từ truyện Nôm và tích Hán: Lục Vân Tiên, Thư Cẫu, Lư Xiễn, Linh Y, Càn Long, Phung Lau Pống Ón.
    • Tháng 7/2011: Điền dã tại Cành Nàng (Bá Thước, Thanh Hóa) tiếp xúc nhà giáo Hà Nam Ninh, khảo sát thông tin về Khăm Panh, Ú Thêm và tác phẩm Tư Mã Hai Đào (sưu tầm tại xã Sơn Thủy, Quan Sơn).
    • Tháng 12/2011: Điền dã tại huyện Quan Sơn và Quan Hóa (Thanh Hóa), thu thập 2 dị bản của Xống chụ xon xao.
  4. Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu văn học với dân tộc học, văn hóa học, sử học và ngôn ngữ học tộc người.

Nguồn tư liệu khảo sát

  • Tư liệu xuất bản: 33 tác phẩm truyện thơ Thái đã công bố trong các tuyển tập và ấn phẩm độc lập.
  • Tư liệu chữ Thái cổ sưu tầm thực tế: Tạo Láng Xôm, Lục Vân Tiên, Thư Cẫu, Lư Xiễn, Linh Y, Càn Long, Phung Lau Pống Ón, Tư Mã Hai Đào, 2 dị bản Xống chụ xon xao.
  • Tư liệu so sánh quốc tế: Truyện thơ Nga Bính Tang Lạc, tuyển tập Kim hồ chi thần (Vân Nam, Trung Quốc); các văn bản truyện thơ trong Hợp tuyển Văn học Lào, Văn hóa dân gian Thái Lan, Từ điển văn học Đông Nam Á.

Nội dung chính theo từng chương

Bảng tổng hợp hiện trạng văn bản truyện thơ Thái ở Việt Nam

Dựa trên kết quả khảo sát của luận án, diện mạo văn bản truyện thơ Thái được phân bố như sau:

Nhóm văn bản Số lượng Danh mục tác phẩm tiêu biểu Tình trạng ngữ liệu
Đã dịch sang tiếng phổ thông 21 Xống chụ xon xao, Khun Lú nàng Ủa, Khăm Panh, Ú Thêm, Hiến Hom Cầm Đôi, Ý Nọi nàng Xưa, Tình anh em, Tóng Đón Ăm Ca, Tạo Hún Lu nang Ùa Piểm, Nàng Căm chàng Ín, Khủn Tinh, Kén Kẻo, Cẩu tô cốp, Chim Yểng, Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo Hoàng Tíu và nàng Công chúa, Lang Chang Nguyên, Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài, Tạo Sông Ca nàng Si Cáy, Út Ỏ về Kinh. Có chữ Thái cổ, phiên âm tiếng Thái và bản dịch thơ/xuôi tiếng phổ thông.
Chỉ có văn bản chữ Thái cổ 12 Ý Đón Ý Đăm, Náng Ý Tú, Náng Phôn Hom, Tạo Láng Hôm Náng Hai, Quắm Khun Tính, Quắm Ca Đông, Út Ỏ, Ngú Háo, Pha Mệt, Pha Cáng, Thi Thặt, Náng Cống Cắm Đanh. In trong bộ sách Quắm Khắp xư (1997–1998), chưa dịch ra tiếng phổ thông.
Tư liệu điền dã chữ Thái cổ 8 Tạo Láng Xôm, Lục Vân Tiên, Thư Cẫu, Lư Xiễn, Linh Y, Càn Long, Phung Lau Pống Ón, Tư Mã Hai Đào. Bản thảo viết tay, chép trên giấy bản lưu truyền trong dân gian.

Chương 1: Tổng quan về tộc người Thái và truyện thơ Thái ở Việt Nam

1. Tổng quan về tộc người Thái ở Việt Nam

  • Dân số và địa bàn cư trú: Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, người Thái có 1.328.725 người; năm 2009 đạt 1.550.423 người, phân bố tập trung tại Sơn La (482.985 người), Nghệ An (269.469 người), Thanh Hóa (210.908 người), Lai Châu (206.001 người), Lào Cai (52.146 người), Yên Bái (45.307 người), Hòa Bình (29.438 người).
  • Phân vùng văn hóa: Địa bàn cư trú trải dài từ lưu vực sông Thao, sông Đà, sông Mã đến sông Lam, hình thành 3 không gian văn hóa:
    1. Vùng văn hóa Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai): Bảo lưu mô thức tổ chức kinh tế – xã hội bản mường truyền thống.
    2. Vùng văn hóa Thanh Nghệ (Thanh Hóa, Nghệ An): Sớm chuyển nhập vào hệ thống hành chính, tổ chức kinh tế – xã hội chung của quốc gia.
    3. Vùng văn hóa đệm trung gian (Mường Tấc, Mường Sang, Đà Bắc, Mai Châu): Mang tính chất quá độ giữa Tây Bắc và Thanh Nghệ.
  • Ngành và nhóm tộc người: Phân chia thành hai ngành chính: Thái Đen (Tay Đăm) gồm 3 nhóm (nhóm nguồn gốc Mường Lò, nhóm Tay Vạt ở Yên Châu, nhóm cư trú tại miền núi Thanh Nghệ); Thái Trắng (Tay Khao, Tay Đón) gồm 3 nhóm (nhóm Tây Bắc đan cài với Thái Đen, nhóm Mường Tấc – Mường Sang – Mai Châu – Đà Bắc, nhóm Tay Dọ/Tay Mường/Hàng Tổng ở Thanh Nghệ).
  • Lịch sử tộc người: Bắt đầu từ các cuộc thiên di thế kỷ XI–XII do Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn đầu từ Mường Ôm – Mường Ai chiếm lĩnh Mường Lò (Nghĩa Lộ), tiếp nối bằng cuộc thiên di của Lạng Chượng chinh phục các triền sông khắp Tây Bắc và Thanh Nghệ; chúa Lò Lẹt phát triển trung tâm Mường Muổi; ngành Thái Trắng hình thành trung tâm Mường Lay dọc sông Đà và trung tâm Mường Sang (Mộc Châu) do Nhọt Cằm dẫn đầu từ Lào sang.
  • Văn hóa tộc người và môi trường diễn xướng: Văn hóa lúa nước điển hình với hệ thống mương – phai – lái – lịn; sinh hoạt lễ hội phong phú (xên bản, xên mường, xên đông, kin chiêng boóc mạy); các hình thức diễn xướng dân gian như hội vui hạn khuống, múa xòe và nghệ thuật hát dân ca (khắp/khặp). Truyện thơ được diễn xướng chủ yếu bằng hình thức hát theo sách gọi là khắp xư (khặp xự), hát trong đám cưới (khắp báo xao) hoặc hát nối kết hợp dân ca trữ tình (khắp phẳn).

2. Phân loại và nguồn đề tài cốt truyện của truyện thơ Thái

  • Phân loại thể loại:
    1. Truyện thơ trữ tình: Phát triển trực tiếp từ dân ca, thể hiện tâm trạng, số phận lứa đôi (Xống chụ xon xao).
    2. Truyện thơ tự sự: Kế thừa cốt truyện cổ tích bản địa (Ý Nọi nàng Xưa, Tạo Sông Ca nàng Si Cáy).
    3. Truyện thơ tiếp thu cốt truyện ngoại sinh: Chuyển thể từ truyện Nôm người Kinh (Lục Vân Tiên), văn học cổ điển Trung Quốc (Thư Cẫu, Càn Long, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài) hoặc tích truyện Phật giáo/Đông Nam Á (Ú Thêm).
  • Vấn đề địa phương hóa và dị bản: Quá trình bản địa hóa diễn ra mạnh mẽ khi tiếp thu cốt truyện ngoại nhập. Cốt truyện cổ tích Ấn Độ khi du nhập vào Ú Thêm đã bị tước bỏ hầu hết thế giới quan tôn giáo Ấn Độ để thay thế bằng không gian bản mường, phong tục tập quán Thái; tác phẩm Khăm Panh phản ánh mâu thuẫn xã hội có nguồn gốc lịch sử tại vùng Bá Thước (Thanh Hóa) gắn với dòng họ Hà (Hà Nhân Chính, Hà Thọ Lộc).

Chương 2: Kết cấu cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ truyện thơ

1. Kết cấu cốt truyện

  • Dạng kết cấu dựa trên nội dung dân ca: Tiêu biểu là Xống chụ xon xao. Cốt truyện được tổ chức theo mạch tâm lý và cảm xúc của nhân vật trữ tình, kết nối các trường đoạn tâm tình than thân, dặn dò lứa đôi thành một tuyến truyện mạch lạc.

  • Dạng kết cấu dựa trên cốt truyện truyện cổ tích: Các tác phẩm như Khun Lú nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi, Ú Thêm kế thừa hệ thống motif dân gian truyền thống (motif mồ côi, mẹ kế con chồng, người đội lốt, tìm vợ trên trời) nhưng tái cấu trúc để đi sâu vào chi tiết hiện thực và diễn biến nội tâm.

  • Mô hình kết cấu cốt truyện bi kịch: Khác với kết cấu "Gặp gỡ – Tai biến – Đoàn tụ" kết thúc có hậu trong truyện Nôm Kinh và truyện thơ Tày, truyện thơ Thái chủ yếu xây dựng theo mô hình 3 chặng kết thúc bi kịch:

    $$\text{Gặp gỡ và yêu nhau} \longrightarrow \text{Bị ngăn trở, ép duyên} \longrightarrow \text{Một hoặc cả hai nhân vật đều chết}$$

    Kết thúc bi kịch mang chức năng tố cáo chế độ hôn nhân gả bán, sự áp bức của tầng lớp phìa tạo và tạo hiệu ứng thanh lọc tâm hồn (catharsis) theo đặc trưng mỹ học dân gian.

2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

  • Loại hình nhân vật:
    • Nhân vật chính diện: Những chàng trai nghèo, tài hoa, mồ côi, giàu lòng chung thủy (chàng Anh yêu, Khun Lú, Cầm Đôi) và những thiếu nữ xinh đẹp, nết na, kiên trinh chịu nhiều oan trái (nàng Em yêu, nàng Ủa, Hiến Hom).
    • Nhân vật phản diện: Đại diện cho giai cấp thống trị bản mường hà khắc (phìa tạo, tạo mường), cha mẹ tham giàu ép duyên con cái, hoặc người mẹ kế độc ác.
  • Xu hướng biến đổi của nhân vật: Nhân vật truyện thơ thoát dần khỏi tính chất chức năng tĩnh tại của truyện cổ tích. Nhờ sự tích hợp lời ca trữ tình, nhân vật đã bộc lộ đời sống nội tâm phức tạp, trạng thái giằng xé và ý thức cá nhân trước hoàn cảnh éo le.

3. Đặc điểm ngôn ngữ truyện thơ Thái

  • Tính chất trữ tình: Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, đậm đặc hình ảnh so sánh, liên tưởng gắn với thiên nhiên núi rừng, sinh hoạt canh tác và tập quán sinh hoạt của bản mường Tây Bắc, Thanh Nghệ.
  • Hiện tượng đan xen ngôn ngữ và điển cố: Sử dụng lớp từ tiếng Thái cổ kết hợp đan xen các từ ngữ Hán – Việt, tiếng Kinh miền xuôi và tiếp thu các điển cố văn học trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa.
  • Công thức mở đầu, kết thúc và chuyển đoạn: Duy trì các công thức truyền thống mang tính khuôn mẫu của nghệ thuật diễn xướng dân gian nhằm báo hiệu không gian kể chuyện, định hướng tiếp nhận và chuyển tiếp mạch trần thuật.
  • Thể thơ: Sử dụng thể thơ dân tộc hỗn hợp dài ngắn linh hoạt, gieo cả vần lưng (khoác khoang) và vần chân, không chia khổ cố định; trong đó thể thơ 7 chữ và 9 chữ giữ vai trò nòng cốt, phối hợp cùng thể khắp bắc (11–12 chữ) và khống khái (5–6 chữ).

Chương 3: Truyện thơ Thái ở Việt Nam trong tương quan so sánh loại hình với truyện thơ Thái ở một số nước

1. Diện mạo truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan và Lào

  • Vân Nam (Trung Quốc): Các truyện thơ của người Thái Đăm, Thái Đón, Thái Lự như Nga Bính Tang Lạc, các tác phẩm trong tuyển tập Kim hồ chi thần.
  • Thái Lan và Lào: Hệ thống truyện thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn học Phật giáo (Jataka) và sử thi Ấn Độ (Ramayana), lưu truyền qua các bản chép trên lá buông hoặc sách giấy bản.

2. Tương đồng và khác biệt về nguồn đề tài và kết cấu

  • Điểm tương đồng:
    • Cùng chung nguồn gốc văn hóa – ngôn ngữ Tày – Thái; chia sẻ các motif cốt truyện dân gian chung như motif người trần lấy vợ tiên, đôi lứa chia lìa do cấm đoán giai cấp, linh hồn hóa thân sau khi chết.
    • Sử dụng hình thức văn vần kết hợp phương thức diễn xướng dân gian trong cộng đồng bản mường.
  • Điểm khác biệt:
    • Về nguồn đề tài: Truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam chịu tác động mạnh mẽ của giáo lý Phật giáo Nguyên thủy và Bà La Môn giáo; trong khi truyện thơ Thái ở Việt Nam mang đậm tính hiện thực thế sự dân gian, tước bỏ triệt để các yếu tố thần linh, siêu nhiên Ấn Độ để phản ánh trực tiếp mâu thuẫn giai cấp và gia đình phụ quyền bản địa.
    • Về kết cấu cốt truyện: Truyện thơ Thái ở Thái Lan và Lào thường kết thúc theo luật nhân quả, nghiệp báo hoặc tái sinh giải thoát theo quan niệm Phật giáo; truyện thơ Thái ở Việt Nam phát triển xung đột xã hội đến đỉnh điểm và giải quyết bằng kết cục bi kịch hiện thực.

3. Lý giải nguyên nhân

  • Nguyên nhân tương đồng: Bắt nguồn từ cội nguồn lịch sử, cùng thuộc ngữ hệ Tai – Kadai, có chung điều kiện canh tác lúa nước thung lũng và cấu trúc tổ chức xã hội bản mường cổ truyền.
  • Nguyên nhân khác biệt:
    • Về môi trường tôn giáo: Người Thái ở Lào, Thái Lan và Tây Nam Trung Quốc tiếp nhận Phật giáo Nam truyền làm quốc giáo hoặc tôn giáo chủ đạo; người Thái ở Việt Nam chủ yếu duy trì tín ngưỡng đa thần bản địa (then, ma bản, ma mường), tạo điều kiện cho truyện thơ bám sát hiện thực trần thế.
    • Về bối cảnh giao lưu văn hóa: Người Thái ở Việt Nam cùng sinh sống lâu đời và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ sự giao lưu văn hóa với người Kinh (tiếp thu truyện Nôm), người Mường, Tày, hình thành nên bản sắc văn học mang đậm tính hiện thực xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

  1. Tổng hợp và hệ thống hóa tư liệu: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên khảo sát, thống kê toàn diện 33 tác phẩm truyện thơ Thái đã công bố tại Việt Nam (từ năm 1957 đến năm 2011), phân loại rõ 12 bản chữ Thái cổ và 21 bản đã dịch sang tiếng phổ thông; đồng thời bổ sung 8 văn bản chữ Thái cổ thu thập qua điền dã thực địa tại Sơn La, Thanh Hóa và Nghệ An.
  2. Làm rõ đặc trưng thi pháp thể loại: Luận án phân tích có hệ thống cấu trúc cốt truyện (dạng dân ca và dạng cổ tích), xác lập mô hình kết cấu bi kịch 3 chặng, chỉ ra quy luật phát triển tâm lý nhân vật từ chức năng sang cá thể hóa, và phân tích các đặc trưng thể thơ hỗn hợp (7 chữ, 9 chữ, vần lưng, vần chân) trong nghệ thuật ngôn từ Thái.
  3. Mở rộng so sánh loại hình khu vực: Luận án bước đầu đặt truyện thơ Thái ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh đồng đại và lịch sử loại hình với truyện thơ của các nhóm Thái tại Lào, Thái Lan và Vân Nam (Trung Quốc), chỉ ra quy luật "phi tôn giáo hóa", thế sự hóa cốt truyện ngoại sinh tại Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đẩy mạnh công tác sưu tầm, bảo tồn các văn bản chữ Thái cổ đang lưu lạc trong dân gian trước nguy cơ hư hại vật lý và mai một văn tự cổ.
  • Tổ chức phiên âm, chú giải và dịch thuật 12 tác phẩm chữ Thái cổ còn lại sang tiếng phổ thông để phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy đại học.
  • Duy trì không gian sinh hoạt văn hóa dân gian (lễ hội, hạn khuống, diễn xướng khắp xư) nhằm bảo tồn phương thức lưu truyền tự nhiên của thể loại truyện thơ trong đời sống cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ khảo sát chuyên sâu 21 tác phẩm đã có bản dịch tiếng phổ thông do dung lượng và rào cản dịch thuật đối với 12 tác phẩm chữ Thái cổ còn lại. Khi phân tích ngôn ngữ, tác giả vẫn phải dựa một phần vào bản dịch tiếng Việt của các dịch giả hiện đại, chưa thể xử lý toàn diện trên 100% nguyên bản chữ Thái cổ. Nguồn tư liệu so sánh với Lào, Thái Lan và Vân Nam chủ yếu tiếp cận qua các bản dịch trung gian và công trình khảo cứu xuất bản bằng tiếng Việt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục phiên âm, dịch thuật toàn bộ các truyện thơ chữ Thái cổ chưa được xuất bản; mở rộng điều tra thực địa điền dã để sưu tầm các dị bản tại các vùng văn hóa Thái Thanh Hóa, Nghệ An; đẩy mạnh so sánh văn bản học đối chiếu với các nguồn tư liệu gốc tiếng Thái Lan, tiếng Lào và chữ Thái Lự (Vân Nam).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học Việt Nam, Dân tộc học, Văn hóa học và Ngôn ngữ học các dân tộc thiểu số.
    • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Thi pháp học folklore và Văn học so sánh Đông Nam Á.
    • Cán bộ quản lý văn hóa: Tham khảo trong công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, sưu tầm văn bản cổ và xây dựng chính sách phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần tổng mục tư liệu văn bản học truyện thơ Thái; hệ thống phân tích thi pháp kết cấu và ngôn ngữ; các cứ liệu điền dã thực tế về địa phương hóa cốt truyện tại Thanh Hóa (Khăm Panh, Ú Thêm).

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến thời điểm luận án hoàn thành (năm 2013), có bao nhiêu truyện thơ của người Thái ở Việt Nam đã được sưu tầm và công bố?

Theo khảo sát của luận án, có 33 tác phẩm truyện thơ Thái đã được công bố; trong đó có 12 tác phẩm mới chỉ in bằng chữ Thái cổ (tập trung trong bộ Quắm Khắp xư năm 1997–1998) và 21 tác phẩm đã được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông. Ngoài ra, tác giả còn sưu tầm thêm 8 bản thảo chữ Thái cổ qua điền dã thực địa.

2. Mô hình kết cấu cốt truyện phổ biến và tiêu biểu nhất của truyện thơ Thái ở Việt Nam là gì?

Khác với mô hình kết thúc có hậu trong truyện Nôm Kinh, truyện thơ Thái ở Việt Nam phổ biến nhất với mô hình kết cấu có kết thúc bi kịch gồm 3 chặng: Gặp gỡ và yêu nhau $\rightarrow$ Bị ngăn trở, rẽ duyên $\rightarrow$ Một hoặc cả hai nhân vật đều chết. Mô hình này thể hiện sâu sắc tính chất tố cáo hiện thực và đáp ứng nhu cầu thanh lọc tâm hồn của nghệ thuật folklore.

3. Sự khác biệt cơ bản giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam và truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan, Vân Nam (Trung Quốc) nằm ở điểm nào?

Truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Phật giáo Nam truyền và Bà La Môn giáo, cốt truyện đậm chất tôn giáo và kết thúc theo luật nhân quả, tái sinh. Ngược lại, truyện thơ Thái ở Việt Nam mang tính thế sự bản mường sâu sắc, tước bỏ các yếu tố tôn giáo Ấn Độ và hướng đến phản ánh trực tiếp xung đột xã hội, áp bức giai cấp và bi kịch tình yêu lứa đôi dưới trần thế.

4. Người Thái ở Việt Nam diễn xướng truyện thơ trong dân gian bằng những hình thức nào?

Truyện thơ Thái được diễn xướng chủ yếu qua hình thức hát theo sách gọi là khắp xư (khặp xự). Tùy hoàn cảnh, truyện thơ còn được hát trong đám cưới theo điệu khắp báo xao, hoặc hát nối chuyển tiếp sang dân ca trữ tình gọi là khắp phẳn (hát bện, xoắn lại) trong các sinh hoạt văn nghệ tập thể như hội hạn khuống, tiệc tùng, lễ tết.

5. Luận án lý giải nguồn gốc lịch sử của truyện thơ Khăm Panh tại Thanh Hóa như thế nào?

Luận án chỉ ra rằng Khăm Panh là truyện thơ thế sự hình thành từ chính hiện thực lịch sử bản địa tại vùng Cổ Lũng (Bá Thước, Thanh Hóa). Hình tượng dòng họ Khun Ha trong tác phẩm gắn liền với các nhân vật lịch sử có công với đất nước là Hà Nhân Chính và Hà Thọ Lộc, bác bỏ quan điểm phi lịch sử trước đó từng coi đây là câu chuyện chống phong kiến Hán bành trướng.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam dưới góc độ văn bản học, thi pháp học và so sánh loại hình. Thông qua việc khảo sát 33 tác phẩm công bố cùng các tư liệu điền dã thực tế, luận án đã làm rõ mô hình kết cấu cốt truyện bi kịch, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và đặc trưng thể thơ hỗn hợp giàu chất trữ tình của người Thái. Đồng thời, công trình xác định vị trí của truyện thơ Thái Việt Nam trong không gian văn hóa Đông Nam Á với đặc trưng thế sự hóa và bản địa hóa sâu sắc, đóng góp tư liệu và cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và bảo tồn di sản văn học dân gian các dân tộc thiểu số.