Tổng quan nghiên cứu

Huyện Võ Nhai là địa bàn miền núi vùng cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích tự nhiên đạt 83.943 ha, quy mô dân số ghi nhận 68.177 người vào năm 2018, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 70% cư trú trên 15 đơn vị hành chính cấp xã. Địa hình toàn huyện chịu sự chia cắt phức tạp bởi các dãy núi đá vôi hiểm trở chiếm tới 92% diện tích, gây ra những rào cản tự nhiên nghiêm trọng đối với tiến trình giao thương, phát triển kết cấu hạ tầng và phân bố dân cư. Mặc dù địa phương đã đạt được những chuyển biến tích cực trong tăng trưởng kinh tế với mức thu ngân sách năm 2018 đạt 62,612 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo tới 78,51% tổng số hộ nghèo toàn huyện. Bên cạnh đó, việc một bộ phận đồng bào dân tộc Mông bị ảnh hưởng bởi tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình tại một số xóm vùng sâu đã đặt ra thách thức gay gắt đối với công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc trên địa bàn huyện Võ Nhai trong giai đoạn 2016 - 2018, đồng thời định hình tầm nhìn phát triển đến năm 2020. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện hệ thống điểm nghẽn về thể chế, tổ chức bộ máy và phương thức thực thi chính sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm củng cố năng lực quản trị công cấp cơ sở. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp mô hình thực chứng giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công, phấn đấu duy trì tốc độ giảm nghèo bình quân trên 4% mỗi năm và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào thiểu số một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc với nguyên tắc cốt lõi: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển. Cơ sở pháp lý và lý thuyết quản lý nhà nước được cụ thể hóa qua hệ thống các văn bản chỉ đạo chiến lược như Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc, cùng Quyết định số 449/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020. Về mặt học thuật, công trình tích hợp mô hình phân cấp quản lý hành chính nhà nước cấp địa phương, lý thuyết phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và lý thuyết an ninh phi truyền thống trong kiểm soát xung đột xã hội vùng đồng bào tôn giáo, sắc tộc.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa và vận dụng xuyên suốt luận văn bao gồm:

  • Công tác dân tộc: Hệ thống các hoạt động quản lý nhà nước nhằm tác động, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP.
  • Quản lý nhà nước về dân tộc cấp huyện: Quá trình cơ quan hành chính nhà nước địa phương thực thi thẩm quyền, tổ chức triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kiểm tra, thanh tra và kiện toàn bộ máy thực hiện chính sách trên địa bàn lãnh thổ cấp huyện.
  • Bản sắc văn hóa tộc người và giảm nghèo đa chiều: Các chỉ số phản ánh tính đặc thù về phong tục, ngôn ngữ, tập quán sản xuất và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của 8 thành phần dân tộc chính trên địa bàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực địa sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2016 - 2018 của Phòng Dân tộc, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tư pháp, Chi cục Thống kê huyện Võ Nhai và các quyết định hành chính liên quan của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 485 cán bộ cơ sở và đại diện cộng đồng tham gia 5 lớp tập huấn thuộc Chương trình 135, kết hợp thu thập ý kiến đánh giá từ hơn 3.100 lượt người dân thụ hưởng các hoạt động tuyên truyền và trợ giúp pháp lý tại 14 xã và 1 thị trấn. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao phủ toàn diện 3 tiểu vùng sinh thái - kinh tế của huyện, từ vùng thấp phát triển công nghiệp đến các xã vùng cao đặc biệt khó khăn.

Các phương pháp phân tích chuyên sâu bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp hệ thống hóa số liệu bảng biểu, phương pháp phân tích so sánh liên kỳ giai đoạn 2016 - 2018 và phương pháp đối chiếu quy chuẩn pháp luật. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính định lượng hóa chính xác hiệu quả giải ngân 332,008 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời làm rõ sự tương quan giữa năng lực quản trị công với tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại các xã vùng cao. Timeline nghiên cứu được thực hiện tập trung từ năm 2018 đến đầu năm 2019, cập nhật chuỗi số liệu từ năm 2016 đến hết năm 2018 và các chỉ tiêu dự ước năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bức tranh kinh tế huyện Võ Nhai ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng nhưng tính bền vững chưa cao và tiềm ẩn sự phân hóa sâu sắc. Thu ngân sách nhà nước năm 2018 đạt 62,612 tỷ đồng, vượt 83% kế hoạch được giao, tăng 76,4% so với năm 2017 và gấp 4,7 lần so với mốc 13,29 tỷ đồng của năm 2010. Giá trị sản xuất trên 1 ha đất trồng trọt năm 2018 đạt 63,7 triệu đồng nhờ hình thành các vùng chuyên canh cây ăn quả như bưởi Diễn tại xã Tràng Xá, ổi tại Phú Thượng, na dai tại La Hiên. Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 78,6% tổng diện tích tự nhiên tương đương 66.012,18 ha nhưng hiệu quả kinh tế lâm nghiệp mang lại cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vẫn ở mức khiêm tốn, chưa khai thác hết giá trị gia tăng chuỗi sản phẩm.

Thứ hai, tình trạng nghèo đói phân hóa nghiêm trọng theo từng thành phần dân tộc và tập trung chủ yếu ở nhóm dân tộc thiểu số vùng cao. Số liệu thống kê năm 2018 cho thấy toàn huyện có 3.653 hộ nghèo, trong đó hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tới 78,51%, trong khi hộ nghèo dân tộc Kinh chỉ chiếm 21,49%. Trong số các dân tộc thiểu số, người Dao có tỷ lệ nghèo cao nhất toàn huyện chiếm 25,66%, tiếp theo là dân tộc Mông chiếm 21,69%, dân tộc Tày chiếm 16,81%, dân tộc Nùng chiếm 11,60% và dân tộc Cao Lan chiếm 2,49%. Đặc biệt, tại các xã vùng cao đặc biệt khó khăn như Thượng Nung, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Thần Sa và Sảng Mộc, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số lên tới mức tuyệt đối từ 98,23% đến 100%.

Thứ ba, quy mô nguồn lực đầu tư công thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2016 - 2018 đạt mức rất lớn với tổng kinh phí vượt 561,8 tỷ đồng. Cụ thể, các chương trình mục tiêu quốc gia đạt 332,008 tỷ đồng (gồm 71,7822 tỷ đồng cho giảm nghèo bền vững và 260,2259 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới); nhóm chính sách phát triển ngành đạt 202,7256 tỷ đồng (trong đó lĩnh vực y tế chiếm 104,003 tỷ đồng, giáo dục chiếm 52,833 tỷ đồng, bảo vệ rừng chiếm 15,9328 tỷ đồng); chính sách địa phương đạt 27,0841 tỷ đồng. Kết quả đã nâng cấp, xây mới 164,5 km đường giao thông nông thôn, hỗ trợ 554,611 tấn gạo cho 5.059 học sinh vùng khó khăn và cấp phát 130.344 thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư, công tác tổ chức bộ máy và quản trị an ninh cơ sở còn bộc lộ điểm nghẽn cố hữu. Vị trí phụ trách công tác dân tộc cấp xã hoàn toàn mang tính kiêm nhiệm, thiếu sự đồng bộ khi có xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân trực tiếp nắm, có nơi lại giao công chức văn hóa - xã hội hoặc văn phòng. Đáng lưu ý, 4 sinh viên người dân tộc thiểu số được cử tuyển đào tạo đại học tốt nghiệp giai đoạn 2016 - 2017 đều chưa được chính quyền bố trí công tác mà phải tự tìm việc làm tại các doanh nghiệp tư nhân. Trên bình diện an ninh trật tự, hoạt động tuyên truyền trái phép, lén lút dựng nhà đòn của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình tại các xã Dân Tiến, Phương Giao, Thượng Nung đã gây phức tạp cục bộ, làm gián đoạn sản xuất của hàng trăm hộ đồng bào Mông.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua mô hình biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu nghèo đa chiều giữa 8 thành phần tộc người và biểu đồ tròn phân tích tỷ trọng các nguồn vốn chính sách, nơi ngân sách trung ương chiếm trên 65% tổng nguồn lực can thiệp. Nguyên nhân sâu xa của khoảng cách phát triển bắt nguồn từ điều kiện địa hình chia cắt mạnh với độ cao trung bình 100 - 800 m, khí hậu phân hóa khô hạn cực đoan trong mùa khô khi lượng mưa 5 tháng chỉ chiếm 9% cả năm, cùng với rào cản ngôn ngữ khi một bộ phận đồng bào vùng sâu chưa thông thạo tiếng phổ thông.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại tỉnh Cao Bằng - nơi có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 95% và trên 430 hộ chịu ảnh hưởng từ tổ chức Dương Văn Mình, huyện Võ Nhai đã kiểm soát tốt hơn các điểm nóng nhờ việc huy động sức mạnh của hệ thống chính trị và 100% người có uy tín trong thôn bản. Đồng thời, bài học tự chủ ngân sách và phân cấp quản lý từ tỉnh Quảng Ninh cho thấy Võ Nhai cần nhanh chóng chuyển dịch tư duy quản lý: từ hình thức hỗ trợ trực tiếp, mang nặng tính bao cấp sang đầu tư chiều sâu vào năng lực nội sinh và phát triển kinh tế hộ gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai phối hợp Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên thực hiện thống nhất phân công 01 lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã và 01 công chức chuyên trách theo dõi công tác dân tộc tại 100% các xã, thị trấn trong giai đoạn 2020 - 2022. Hàng năm tổ chức tối thiểu 02 đợt tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng vận động quần chúng và kiến thức tiếng dân tộc bản địa cho trên 500 lượt cán bộ cơ sở. Ưu tiên tuyển dụng, bố trí vị trí việc làm phù hợp cho 100% sinh viên diện cử tuyển tốt nghiệp ra trường có chuyên ngành phù hợp với nhu cầu địa phương.

Thứ hai, tái cấu trúc phương thức phân bổ vốn chính sách và chuyển đổi mô hình sinh kế. Phòng Dân tộc chủ trì phối hợp Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2020 - 2025 chuyển đổi tối thiểu 35% tổng nguồn vốn hỗ trợ sản xuất sang hình thức cho vay quay vòng tín dụng ưu đãi gắn với chuỗi giá trị. Đẩy mạnh nhân rộng 15 mô hình trang trại liên kết tiêu thụ sản phẩm nông - lâm nghiệp, phấn đấu nâng giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác từ 63,7 triệu đồng lên trên 85 triệu đồng vào năm 2025, tập trung ưu tiên hỗ trợ nguồn lực phát triển sản xuất cho 2 cộng đồng có tỷ lệ nghèo cao nhất là dân tộc Dao (25,66%) và dân tộc Mông (21,69%).

Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng thông tin truyền thông và giáo dục pháp luật. Phòng Văn hóa - Thông tin phối hợp Phòng Tư pháp duy trì hoạt động hiệu quả của 95 cụm loa phát thanh cơ sở tại 10 xã vùng cao, nâng cao chất lượng phát thanh song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số. Phấn đấu đến năm 2023, 100% các thôn bản đặc biệt khó khăn được phủ sóng truyền thanh thông minh và internet cáp quang, đồng thời tổ chức định kỳ trên 100 buổi tuyên truyền, trợ giúp pháp lý lưu động mỗi năm nhằm tiếp cận trên 4.500 lượt người dân nghèo.

Thứ tư, củng cố thế trận an ninh nhân dân gắn với phát huy vai trò người có uy tín. Công an huyện Võ Nhai phối hợp Ban Dân vận Huyện ủy và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, kiên quyết xử lý dứt điểm các hoạt động phục dựng nhà đòn trái phép của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình tại xã Phương Giao và Thượng Nung trong giai đoạn 2020 - 2021. Duy trì tổ chức 100% hội nghị cung cấp thông tin thời sự định kỳ cho mạng lưới người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm giữ vững ổn định chính trị từ cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cấp ủy chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh. Luận văn là cẩm nang thực tiễn cho Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Dân tộc huyện Võ Nhai và Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong việc hoạch định kế hoạch công tác dân tộc trung hạn, tối ưu hóa quy trình giải ngân vốn các chương trình mục tiêu quốc gia với quy mô hàng trăm tỷ đồng mỗi giai đoạn.

Nhóm 2: Đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở và lực lượng dân vận tại 15 xã, thị trấn miền núi. Cung cấp phương pháp luận thực chứng và bộ kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp trong quản lý trật tự xã hội, vận động đồng bào dân tộc Mông từ bỏ tà đạo và phương thức tổ chức điều hành các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn mới.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Xã hội học. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu, cung cấp chuỗi số liệu định lượng phong phú về cơ cấu dân tộc học, biến động kinh tế - xã hội và tác động của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại vùng đồng bào thiểu số miền núi phía Bắc.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp nông nghiệp và hiệp hội phát triển cộng đồng. Cung cấp dữ liệu khảo sát thị trường lao động nông thôn, tiềm năng khai thác 66.012,18 ha đất lâm nghiệp và định hướng thiết kế các dự án viện trợ sinh kế phi chính phủ nhắm trúng các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Câu hỏi thường gặp

  1. Rào cản tự nhiên và xã hội lớn nhất đối với công tác dân tộc tại huyện Võ Nhai là gì? Rào cản lớn nhất là địa hình vùng cao hiểm trở với 92% diện tích là núi đá vôi và đồi dốc, gây chia cắt giao thông và làm thiếu hụt nghiêm trọng đất canh tác bằng phẳng. Về mặt xã hội, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm tới 78,51% tổng số hộ nghèo, tập trung cao ở người Dao (25,66%) và người Mông (21,69%), kết hợp sự xuất hiện của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình làm phức tạp tình hình an ninh trật tự cơ sở.

  2. Hiệu quả triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia tại Võ Nhai giai đoạn 2016 - 2018 đạt kết quả ra sao? Các chương trình mục tiêu quốc gia đã huy động thành công 332,008 tỷ đồng, trong đó xây dựng nông thôn mới đạt 260,2259 tỷ đồng và giảm nghèo bền vững đạt 71,7822 tỷ đồng. Toàn huyện đã hoàn thành xây dựng 164,5 km đường giao thông, sửa chữa 45 công trình hạ tầng, nâng tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh từ 86,24% năm 2016 lên 93,48% năm 2018 và đưa 3 xã về đích nông thôn mới.

  3. Chính quyền huyện Võ Nhai đã kiểm soát hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình bằng cách nào? Ủy ban nhân dân huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo chuyên trách, huy động lực lượng an ninh bám sát địa bàn tại bản Làng Ươm (xã Dân Tiến) và các điểm nóng tại Phương Giao, Thượng Nung. Chính quyền kết hợp giữa cưỡng chế, vận động tháo dỡ triệt để các cấu trúc nhà đòn trái pháp luật với việc tổ chức các đợt tuyên truyền sâu rộng thông qua đội ngũ người có uy tín, giúp đại bộ phận đồng bào nhận rõ bản chất sai trái và ổn định tư tưởng sản xuất.

  4. Bất cập lớn nhất trong công tác cán bộ làm công tác dân tộc tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là 100% vị trí theo dõi công tác dân tộc tại 15 xã, thị trấn đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu và thường xuyên luân chuyển. Bên cạnh đó, chính sách cử tuyển chưa gắn kết với quy hoạch vị trí việc làm khi toàn bộ 4 sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp diện cử tuyển giai đoạn 2016 - 2017 đều không được bố trí công tác trong hệ thống cơ quan nhà nước.

  5. Giải pháp đột phá nào được đề xuất để nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số Võ Nhai? Đột phá cốt lõi là chuyển dịch cơ chế hỗ trợ trực tiếp sang đầu tư phát triển chuỗi giá trị và kinh tế lâm nghiệp trên 66.012,18 ha đất rừng. Luận văn đề xuất mở rộng các vùng chuyên canh cây ăn quả giá trị cao như na dai, bưởi Diễn, cam Vinh, kết hợp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và sản xuất chè an toàn VietGAP để đưa giá trị canh tác vượt mức 85 triệu đồng/ha.

Kết luận

  • Công tác quản lý nhà nước về dân tộc tại huyện Võ Nhai giai đoạn 2016 - 2018 đã phát huy vai trò chiến lược, huy động trên 561,8 tỷ đồng vốn chính sách giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống còn 19,48%.
  • Tồn tại khoảng cách phát triển lớn khi 78,51% số hộ nghèo tập trung ở đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó nhóm dân tộc Dao và Mông chiếm tỷ lệ nghèo cao nhất với mức lần lượt là 25,66% và 21,69%.
  • Hệ thống giải pháp của luận văn đã định hình mô hình quản trị tích hợp giữa kiện toàn bộ máy kiêm nhiệm cấp xã với tái cơ cấu sinh kế nông - lâm nghiệp trên 83.943 ha diện tích tự nhiên.
  • Đóng góp học thuật then chốt của công trình là cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và bộ chỉ số theo dõi quản lý công cấp huyện miền núi, tạo tiền đề khoa học để địa phương tự chủ ngân sách và giữ vững an ninh chính trị.
  • Kế hoạch triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thiện số hóa cơ sở dữ liệu dân tộc học và quy hoạch dứt điểm mạng lưới giao thông liên xóm trước năm 2025. Các cấp chính quyền địa phương và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào thực tiễn quản lý địa bàn.