mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các DTTS, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của “dân tộc hẹp hòi”. Để triển khai những định hướng cơ bản đó, ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Tiếp sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-2-1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta [3]. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng DTTS phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người”. Cùng với tiến trình đổi mới, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta tiếp tục được Đảng ta bổ sung và cụ thể hóa. Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
Xây dựng Luật dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, 12 thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh [4].3 Nội dung công tác quản lý nhà nước về dân tộc cấp huyện - Chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc. - Tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng DTTS; chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc ở cấp huyện; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc. - Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng DTTS. - Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng DTTS; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật. - Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện.
- Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người DTTS trong hệ thống chính trị và cán bộ trong cơ quan làm công tác dân tộc cấp huyện. - Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc. - Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS của huyện. 13 - Tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước về dân tộc cấp huyện Công tác quản lý nhà nước về dân tộc ở cấp huyện chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.1 Yếu tố khách quan Bao gồm các yếu tố sau: Đặc điểm về tự nhiên, xã hội của huyện Phạm vi, đối tượng quản lý nhà nước về dân tộc ở cấp huyện là vùng dân tộc, miền núi của huyện, bao gồm các xã đặc biệt khó khăn, xóm đặc biệt khó khăn.
Đây là vùng có địa bàn phức tạp, thuộc vùng sâu, vùng xa, địa hình thường bị ngăn cách bởi các sông suối, các dãy núi đá đi lại rất khó khăn; xuất phát điểm thấp, trình độ phát triển chưa cao, dân cư phần lớn sống phân tán và thuộc nhóm có thu nhập thấp; tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo cao; một bộ phận đồng bào còn chưa biết chữ, không thể nghe và nói được tiếng Kinh. Trình độ dân trí còn hạn chế, còn chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục tập quán sản xuất và sinh hoạt lạc hậu. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý nhà nước về dân tộc của huyện. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện ảnh hưởng rất lớn đến công tác dân tộc trên địa bàn.
Nếu kinh tế phát triển, huyện có nhiều nguồn lực đầu tư hơn cho vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy kinh tế - xã hội của vùng này phát triển sẽ giúp cho công tác dân tộc có hiệu quả. Ngược lại khi kinh tế còn kém phát triển là trở ngại rất lớn đến công tác vận động đồng bào dân tộc chấp hành tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của công tác quản lý nhà nước về dân tộc là phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, bền vững vùng đồng bào DTTS, giúp xóa đói, giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, giảm dần khu vực đặc biệt khó khăn. Vì vậy khi kinh tế phát triển sẽ tạo ra tiền đề, cơ sở để thực hiện nhiệm vụ này, hay nói cách khác nó là cộng cụ, là động lực của công tác quản lý nhà nước về dân tộc.
14 Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng dân tộc cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý nhà nước về dân tộc ở cấp huyện. Khi tình hình an ninh chính trị ổn định thì đồng bào sẽ yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế tiến tới xóa đói, giảm nghèo, chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, giúp cho các chính sách dân tộc triển khai được hiệu quả. Ngược lại, khi vùng đồng bào DTTS bị các thế lực thù địch, các tổ chức bất hợp pháp, các tà đạo lợi dụng, kích động đồng bào chống đối lại các chính sách, các chủ trương của Đảng và Nhà nước sẽ tạo ra sự bất lợi cho địa phương cũng như bản thân đồng bào trong ôn định đời sống, không chú trọng phát triển kinh tế, làm mất an ninh trật tự dẫn đến tạo ra những điểm nóng… khó khăn cho công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác dân tộc nói riêng. Đặc điểm lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng đồng bào DTTS Mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng, có chung chế độ chính trị, nhà nước, pháp luật … nhưng lại có đặc điểm lịch sử phát triển, yếu tố văn hóa tộc người (tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán…) riêng của mình.
Các dân tộc có nền văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng truyền thống riêng, hình thành và phát triển không giống nhau; đặc biệt có những dân tộc rất ít người không tự phát triển. Vì vậy công tác quản lý nhà nước về dân tộc không thể không căn cứ vào những yếu tố văn hóa, xã hội của các dân tộc, của vùng để có những định hướng cho phù hợp, có những phương pháp khác nhau hoặc phải kết hợp rất nhiều phương pháp tổng hợp để thực hiện công tác quản lý đảm bảo hiệu quả nhất. Mức độ phát triển của kết cấu hạ tầng vùng đồng bào DTTS Đây là yếu tố rất quan trọng thúc đẩy công tác dân tộc phát triển, ngoài các kết cấu hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm, chợ, trụ sở cơ quan chính quyền cơ sở… thì hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cũng rất quan trọng để góp phần cho công tác quản lý nhà nước về dân tộc.2 Yếu tố chủ quan Tính chất đặc thù của ngành quản lý nhà nước về dân tộc Công tác quản lý nhà nước về dân tộc là công tác tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, cần có sự tham gia của nhiều ngành trong hệ thống chính trị.Công tác 15 dân tộc đòi hỏi phải có sự hiểu biết tổng hợp về đa lĩnh vực, có tâm huyết với đồng bào DTTS, có kiến thức quản lý nhà nước và năng lực chuyên môn tốt.