CHƯƠNG 1 Chương này, tác giả lược khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng và thành quả hoạt động của doanh nghiệp, các thước đo để đo lường tăng trưởng và thành quả hoạt động, các phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu. Dựa vào các nghiên cứu trước, tác giả đã tìm được khe trống nghiên cứu, tìm hiểu và kế thừa các phương pháp nghiên cứu phù hợp, làm cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu của bản thân. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về tăng trưởng doanh nghiệp 2.1 Khái niệm tăng trưởng doanh nghiệp Theo Kouser et al. (2012) tăng trưởng trong phạm vi của công ty là một quá trình lâu dài, từng bước một, nó có thể được định nghĩa là tăng doanh thu, mở rộng quy mô kinh doanh thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập, tăng trưởng lợi nhuận, phát triển sản phẩm và tăng số lượng nhân viên của công ty.2 Đo lường sự tăng trưởng Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng làm thước đo để đo lường mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp, theo Tingler (2015) việc lựa chọn thước đo tăng trưởng tiềm năng có thể ảnh hưởng đến những kết quả của các nghiên cứu học thuật và do đó các thước đo cần phải được lựa chọn một cách khôn ngoan.
Theo đó tùy theo mục đích nghiên cứu, các tác giả sẽ có lập luận khác nhau về việc lựa chọn thước đo tăng trưởng phù hợp. Carrizosa (2007) tổng hợp các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng như: Giá trị tài chính hoặc thị trường chứng khoán; Số lượng nhân viên; Doanh thu; Năng lực sản xuất; Giá trị sản xuất; Giá trị gia tăng của sản xuất. Các nhà nghiên cứu cho rằng có nhiều chỉ tiêu đo lường tăng trưởng, theo sự tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu trước đây cho thấy có ba chỉ tiêu được sử dụng phổ biến để đo lường tăng trưởng doanh nghiệp gồm tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng tài sản, tăng trưởng số lượng nhân viên. Mức độ tăng trưởng doanh thu là chỉ tiêu được tính toán tương đối dễ dàng: tăng trưởng doanh thu hay tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ.
Tăng trưởng tài sản, tăng trưởng số lượng nhân viên cũng được ghi nhận tương tự tăng trưởng doanh thu. Các đề tài nghiên cứu trước đây cho thấy có hai hướng chính khi nghiên cứu về tăng trưởng doanh nghiệp: hướng thứ 1 nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp và hướng thứ 2 nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng và thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, để giải thích 13 mối quan hệ giữa sự tăng trưởng của công ty và lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp, Yoo and Kim (2015) cũng như nhiều tác giả khác cho rằng cần bổ sung vào mô hình các yếu tố khác để có thể đưa ra kết quả thuyết phục hơn.2 Tổng quan về thành quả hoạt động doanh nghiệp 2.1 Khái niệm thành quả hoạt động Thành quả hoạt động của doanh nghiệp là một vấn đề rất được các đối tượng hữu quan quan tâm. Thành quả hoạt động là kết quả đạt được sau một quá trình hoạt động trên cơ sở nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, đây là một trong những nền tảng quan trọng cho các quyết định quản lý và đầu tư.
Theo Nguyễn Thế Hùng (2012) việc đánh giá kết quả hoạt động giúp doanh nghiệp có thể hiểu rõ được thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh và tiềm lực tài chính bản thân, nắm được vị thế hiện tại để thực hiện các điều chỉnh cần thiết, nhằm nâng cao thành quả hoạt động trong tương lai.2 Chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động Các nghiên cứu trước đây cho thấy có nhiều thước đo được dùng để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Thế Hùng (2012) mỗi thước đo điều có đóng góp và hạn chế khác nhau trong việc đánh giá thành quả hoạt động. Theo tổng hợp của tác giả, các thước đo được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu trước đây để đánh giá thành quả hoạt động là ROA – tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, ROS – tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, ROE – tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Ưu điểm của các thước đo nêu trên là dễ dàng tính toán, tuy nhiên theo Nguyễn Thế Hùng (2012) các thước đo nêu trên có một số hạn chế như: (1) Các hệ số về khả năng sinh lợi không tính đến rủi ro mà công ty phải đối mặt.
(2) Số liệu trong quá khứ được sử dụng và không thể hiện được dự báo về lợi ích trong tương lai. (3) Các hệ số này đơn thuần chỉ thể hiện kết quả dựa trên giá trị ghi sổ mà chưa tính đến giá trị thị trường. (4) Trong một số trường hợp bị áp lực về thành tích, các nhà quản lý có xu hướng chỉ quan tâm đến việc làm tăng ROA, ROE trong ngắn hạn mà không quan tâm đến lợi ích dài hạn của doanh nghiệp. 14 Để khắc phục những hạn chế nêu trên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng EVA - giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo tối ưu.
Đây là một thước đo thành quả doanh nghiệp được đề xuất bởi Stewart & Co vào đầu những năm 1990. Nghiên cứu của Sabol và Sverer (2017) chỉ ra rằng EVA là một biện pháp tài chính nhấn mạnh đến việc tối đa hóa giá trị của cổ đông, chứ không chỉ là tối đa hóa lợi nhuận ròng, nghiên cứu cũng cho thấy EVA là một trong những biện pháp được ủng hộ rộng rãi để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả tổng hợp nhiều nghiên cứu về EVA cho thấy có thể định nghĩa EVA đơn giản là lợi nhuận ròng sau thuế và sau chi phí vốn. Điều này dẫn đến sự khác biệt của EVA với các thước đo hiệu suất truyền thống khác, khi các thước đo truyền thống chủ yếu dựa vào dữ liệu trên sổ sách để tính toán, còn tính toán EVA thì các điều chỉnh dữ liệu phải được thực hiện để loại bỏ các thông tin không hợp lý, tăng độ tin cậy của kết quả về hiệu suất hoạt động.
Tuy nhiên, EVA là một con số tuyệt đối, nếu dùng EVA để đánh giá so sánh thành quả hoạt của các doanh nghiệp khác nhau thì không hợp lý, vì mỗi doanh nghiệp đều có đặc trưng riêng, mức độ quy mô giữa các doanh nghiệp là khác nhau. Để khắc phục hạn chế này, Stewart (2009) đã giới thiệu thước đo mới EVAM, đây là thước đo thể hiện tỷ lệ phần trăm được tính toán từ EVA và doanh thu của doanh nghiệp. Khi đánh giá, so sánh về thành quả hoạt động giữa các doanh nghiệp khác nhau thì việc sử dụng EVAM được cho là hợp lý hơn so với việc sử dụng EVA. Nhìn chung, để đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta có thể sử dụng nhiều thước đo thành quả khác nhau.
Dựa trên tổng hợp các phân tích nêu trên tác giả lựa chọn ba thước đo cho mô hình nghiên cứu của mình. Một là thước đo ROA – tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, đây là một thước đo thành quả hoạt động phổ biến trong các nghiên cứu trước đây. Hai là thước đo ROS – tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, đây cũng là thước đo phổ biến được sử dụng bởi nhiều nghiên cứu khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Ba là thước đo EVAM – tạm dịch là đà giá trị kinh tế tăng thêm, EVA là thước đo thành quả hoạt động dựa trên giá trị được rất nhiều nghiên cứu trên quốc tế ủng hộ tuy nhiên 15 lại chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam.
Do đề tài xem xét cùng lúc nhiều doanh nghiệp nên tác giả chọn sử dụng thước đo EVAM thay cho thước đo EVA để đảm bảo tính hợp lý của biến nghiên cứu.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và thành quả hoạt động doanh nghiệp Mục tiêu chính của các nhà lãnh đạo trong các công ty lớn là tối đa hoá doanh thu và việc tăng doanh số bán hàng sẽ luôn luôn tiếp tục, ngay cả với chi phí thấp hơn, cả trong ngắn hạn và dài hạn (Baumol, 1959). Mỗi doanh nghiệp đều có thế mạnh riêng, tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đang không ngừng phát triển và hội nhập quốc tế, mức độ cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp trong nước không phải chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế với tiềm lực tài chính tốt và kinh nghiệm quản lý lâu đời. Abbasi và Malik (2015) cho rằng sự phát triển của công ty không phải chỉ vì sự tăng trưởng mà đôi khi có liên quan đến sự tồn tại của nó. Do đó, một doanh nghiệp dù đang ở quy mô lớn hay quy mô nhỏ cũng nên quan tâm đến vai trò của tăng trưởng, chú ý mở rộng hoạt động để cạnh tranh, để có thể tồn tại.
Theo Lee (2013) tổng hợp các bài nghiên cứu trước đây đã ghi nhận, các tác giả có nhiều ý kiến khác nhau về sự tăng trưởng, nó có thể không phải là mục tiêu cho tất cả các tổ chức, nhưng nó rất quan trọng vì họ cho rằng tổ chức không tăng trưởng hoặc tăng trưởng thấp thường có xu hướng thất bại. Tương tự, theo Tingler (2015) sự tăng trưởng có mối quan hệ tích cực với sự sống còn của tổ chức. Cũng theo Lee (2013) tăng trưởng có thể tạo ra cơ hội để thúc đẩy khả năng sinh lời. Từ các lập luận nêu trên chỉ ra rằng tăng trưởng là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của tổ chức, các công ty phải luôn phát triển để duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh hoặc sẽ thụt lùi so với sự phát triển của các tổ chức khác.
Tingler (2015) cho rằng sự tăng trưởng doanh nghiệp làm tăng tính hài hòa, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bên ngoài từ đó tạo điều kiện cho việc gia tăng nguồn tài trợ từ bên ngoài. Các doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao có thể thu hút được nhiều sự quan tâm của các đối tượng hữu quan, đây là một cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn rộng lớn, góp phần gia tăng quy mô hoạt động.