chương 1 Trong chương này tác giả đã trình bày sơ bộ các vấn đề nghiên cứu của đề tài như tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như kết cấu của luận văn. Thông qua các mục tiêu nghiên cứu chương tiếp theo sẽ trình bày các vấn đề về tổng quan của luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DN FDI 2.
Cơ sở lý luận về chuyển giá trong các DN FDI 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm FDI FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" (WTO, 1996). Định giá chuyển giao Khái niệm định giá chuyển giao Định giá chuyển giao là việc thiết lập giá cho những giao dịch nội bộ (tức là giao dịch giữa các bên liên quan) đối với hàng hóa, dịch vụ, tài sản vô hình và dòng vốn trong tập đoàn đa quốc gia (Eden, 2003). Các giao dịch nội bộ cho phép các công ty đa quốc gia (MNC) thực hiện “hành vi đa quốc gia” của nó để bù đắp cho chi phí hoạt động ở nước ngoài và đạt được lợi thế cạnh tranh.
Cho nên trong thực hành, thao túng giá chuyển giao (Transfer Pricing Manipulation – TPM) là chiến lược thiết lập giá chuyển giao bên trên hoặc bên dưới chi phí cơ hội để “tránh” sự kiểm soát của chính phủ và những khác biệt trong quy định giữa các quốc gia (Horst, 1971; Eden, 1998). Điều này có nghĩa là định giá chuyển giao liên kết với chuyển dịch lợi nhuận giữa những khu vực có thuế suất khác nhau. Đặc điểm của định giá chuyển giao Định giá chuyển giao được xác định bằng việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ giao dịch trong nội bộ một MNC phù hợp với các yếu tố thị trường được chấp nhận bởi các quốc gia mà các công ty con trong tập đoàn đang hoạt động và nội bộ công ty. Tuy nhiên, ngày nay có rất nhiều giao dịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 không bị chi phối bởi các yếu tố thị trường mà chịu tác động bởi lợi ích của các công ty trong tập đoàn.
Định giá chuyển giao được xem là hợp lý khi tuân theo những quy ước quốc tế hoặc nguyên tắc giá thị trường mà luật thuế tại các quốc gia đặt ra. Một số phương pháp định giá chuyển giao: - Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; - Phương pháp giá bán lại; - Phương pháp giá vốn cộng lãi; - Phương pháp so sánh lợi nhuận; - Phương pháp tách lợi nhuận. Để thiết lập được phương pháp xác định giá chuyển giao theo nguyên tắc thị trường (arm’s length priciple) thì các công ty con trong một MNC nên thực hiện giao dịch với nhau giống như các công ty độc lập nhằm đảm bảo sự công bằng trong thương mại. Trong thực hành, điều này có nghĩa là giá được dùng trong giao dịch này phải bằng với giá cả thị trường hiện tại đối với cùng sản phẩm.
Khái niệm chuyển giá Khái niệm chuyển giá được mô tả chung là việc xác định bằng tiền đối với một loại hàng hóa hay sản phẩm nào đó, tuy nhiên chỉ bao hàm những mặt hàng mà các bên giao dịch không phải mua từ bên ngoài (hay bên thứ ba), tức là những mặt hàng được trao đổi giữa các đơn vị thành viên trong phạm vi của một DN với nhau – còn gọi là các chủ thể có mối quan hệ liên kết. Như vậy, khái niệm chuyển giá chỉ áp dụng cho những tập đoàn gồm tập hợp nhiều DN liên kết có tư cách pháp nhân độc lập, hoặc các chủ thể kinh tế cơ cấu theo mô hình công ty mẹ – công ty con và có hoạt động kinh doanh quốc tế. Ngoài ra, mỗi bộ phận hoặc mỗi đơn vị thành viên khác nhau thực hiện hạch toán độc lập và có thẩm quyền riêng trong việc ra quyết định về định mức chi phí và doanh thu (Phạm Hùng Tiến, 2012). Đặc điểm của chuyển giá trong các DN FDI Theo Phan Thị Thành Dương (2006), Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 với các bên liên kết.
Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau: - Xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. - Xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
- Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế- xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao.
Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp. Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá. Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao.
Chẳng hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế TNDN tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu được. Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của DN liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang DN liên kết này. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá.
Nhưng giao kết về giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá. Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích. Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa. Các dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá Khi thực hiện các phương pháp chống chuyển giá, điều mà CQT quan tâm trước hết là làm sao nhận biết được tại một DN có quan hệ liên kết nào đó có tồn tại hiện tượng chuyển giá hay không? Đây là một vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp trong thực tế và thậm chí đôi khi nó chịu tác động chủ quan bởi cán bộ quản lý thuế.
Do đó, đứng trên quan điểm khách quan, một số dấu hiệu cho thấy có thể tồn tại hiện tượng chuyển giá trong một DN có quan hệ liên kết là: - Các DN bị lỗ trong 2 năm liên tiếp trở lên, sau giai đoạn mới thành lập; - Có các nghiệp vụ chuyển giao từ các DN liên kết ở những quốc gia có thuế suất thấp; - Các DN có tình hình lãi và lỗ luân phiên hoặc tình hình lãi lỗ phát sinh không bình thường; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Các DN mà tỷ suất lợi nhuận của chúng nhỏ hơn nhiều (chênh lệch khá lớn) so với các DN khác trong cùng ngành; - Các DN mà tỷ suất lợi nhuận của chúng thấp hơn tỷ suất lợi nhuận của các DN khác trong cùng một tập đoàn; Những dấu hiệu nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo chứ không phải là chắc chắn sẽ có chuyển giá trong những DN có những dấu hiệu đó.