phần mở đầu, phần kết luận thì đề tài nghiên cứu theo cấu trúc chƣơng: CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM CHƢƠNG 4.
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Kết luận Chƣơng 1 Trong chƣơng 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chƣơng kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của các công ty. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN 2. Cơ sở lý thuyết về công ty kiểm toán 2. Chức năng của kiểm toán Theo nghiên cứu của Trần Đình Tuấn và Đỗ Thị Thuý Phƣơng (2010), hoạt động kiểm toán có chức năng cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính. Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán.
Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và đƣợc thể hiện khác nhau tuỳ đối tƣợng cụ thể của kiểm toán. Thứ hai, chức năng bày tỏ ý kiến là đƣa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực, mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán. Chức năng bày tỏ ý kiến có thể đƣợc hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lƣợng thông tin và cả pháp lí, tƣ vấn qua xác minh. Đối tượng của kiểm toán Thứ nhất, báo cáo tài chính và thực trạng về tài sản, nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Kiểm toán viên phải xem xét và đánh giá một cách toàn diện về sổ sách kế toán, chứng từ, quy trình xử lý, luân chuyển chứng từ kế toán, tài sản và thực trạng hoạt động kinh tế tài chính mới có thể đƣa ra ý kiến nhận xét đúng đắn về báo cáo tài chính. Thứ hai, thực trạng việc chấp hành (hành vi tuân thủ các quy định của các cấp có thẩm quyền luật pháp, chính sách chế độ quy chế…Kiểm toán không chỉ dừng lại ở kiểm toán BCTC mà còn tiến hành kiểm toán tình hình chấp hành và thực hiện các chính sách, chế độ và các quy định có tính nguyên tắc. Từ đó một loại kiểm toán mới đƣợc hình thành đó là kiểm toán tuân thủ, loại kiểm toán này dần dần đƣợc tiến hành đan xen trong kiểm toán BCTC. Thứ ba, ngày nay, kiểm toán đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực tài chính, lĩnh vực thực hiện và chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ.
Không những thế kiểm toán còn phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực phi sản xuất kinh doanh, nhất là kiểm toán tính hiệu lực, hiệu quả. Hiện nay kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nƣớc đã tập trung và đi sâu hơn vào kiểm toán về tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động. Chính vì vậy, tính hiệu lực, 5 hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động là đối tƣợng kiểm toán chủ yếu trong kiểm toán hiện đại ngày nay nhất là lĩnh vực phi sản xuất. Quy trình kiểm toán Các loại kiểm toán khác nhau có những quy trình kiểm toán đặc thù khác nhau.
Tuy nhiên trên một phạm vi chung, tất cả các loại kiểm toán đều có quy trình kiểm toán tƣơng tự nhau, đó là quy trình 3 giai đoạn: Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán. Chu trình kiểm toán Nguồn: Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) 2. Các tổ chức kiểm toán và hoạt động của các tổ chức kiểm toán Tổ chức kiểm toán độc lập Tổ chức kiểm toán độc lập đóng vai trò là một bên độc lập (bên thứ ba) thực hiện chức năng thẩm định thông tin do một đơn vị báo cáo và đƣa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin này. Từ thông tin tài chính (BCTC) đã đƣợc kiểm toán độc lập xác nhận, ngƣời sử dụng thông tin sẽ có cơ sở tin cậy cho việc đƣa ra các quyết định, các đối sách thích hợp: 6 Nhà đầu tƣ quyết định duy trì, mở rộng hay thu hẹp mức độ đầu tƣ; nhà cung cấp quyết định, duy trì, tăng cƣờng hay giảm thiểu mức độ cung cấp vật tƣ hàng hóa… Mặt khác, kết quả kiểm toán trên cũng giúp cho đơn vị đƣợc kiểm toán hiểu biết lại mình một cách khách quan hơn; thêm vào đó là những khuyến cáo cảu KTV độc lập trong thƣ quản lý giúp cho các nhà quản lý đơn vị đƣa ra những điều chỉnh, uốn nắn cần thiết trong hoạt động kinh doanh cũng nhƣ công tác quản lý đơn vị.
Các tổ chức kiểm toán độc lập đƣợc tổ chức theo mô hình doanh nghiệp (thƣờng gọi là công ty, hay các hãng kiểm toán…). Những doanh nghiệp kiểm toán lớn còn có cả các chi nhánh hay văn phòng kiểm toán tại các khu vực. Hai hình thức tổ chức công ty kiểm toán độc lập phổ biến là công ty tƣ nhân và công ty hợp danh. Các công ty kiểm toán này về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm vô hạn.
Hoạt động chính của doanh nghiệp kiểm toán là cung cấp dịch vụ kiểm toán. Ngoài ra còn một số dịch vụ khác nhƣ: Dịch vụ tƣ vấn: Thuế, tài chính, nhân lực…; Dịch vụ kế toán; Dịch vụ định giá tài sản… Tổ chức kiểm toán nhà nƣớc Tổ chức kiểm toán nhà nƣớc đóng vai trò là một công cụ quản lý của nhà nƣớc, đặc biệt là trong quản lý chi tiêu ngân sách nhà nƣớc; giúp nhà nƣớc nắm bắt và củng cố điều hành hoạt động của các đơn vị, các tổ chức trong việc tuân thủ luật pháp và các qui định khác của nhà nƣớc nhƣ: Việc tuân thủ luật doanh nghiệp, luật thuế GTGT, luật kế toán…Tại nhiều quốc gia trên thế giới tổ chức kiểm toán thƣờng đƣợc lập ra dƣới dạng một cơ quan chuyên môn, gọi là cơ quan kiểm toán nhà nƣớc. Tổ chức kiểm toán nhà nƣớc trong một quốc gia cũng có thể phân chia thành các cấp: Kiểm toán nhà nƣớc trung ƣơng, kiểm toán nhà nƣớc địa phƣơng hay khu vực địa lý. Trên thế giới hiện nay, thực tế mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nƣớc trực thuộc hệ thống quản lý cụ thể có một số dạng chính sau: Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nƣớc độc lập với hệ thống cơ quan lập pháp và hệ thống cơ quan hành pháp; Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nƣớc trực thuộc một hệ thống (lập pháp hay hành pháp); tại Việt Nam, cơ quan kiểm toán nhà nƣớc là cơ quan chuyên môn trực thuộc chính phủ.
Tổ chức kiểm toán nhà nƣớc cũng có thể thực hiện các loại kiểm toán: Kiểm toán tài chính (Kiểm toán báo cáo tài chính), kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ; trong đó chủ yếu là kiểm toán để xem xét, đánh giá các đơn vị trong quá trình chấp hành luật pháp và các 7 chính sách, chế độ của nhà nƣớc đã ban hành. Điều đó càng cho thấy vai trò quan trọng đặc biệt của kiểm toán nhà nƣớc trong quản lý đất nƣớc. Tổ chức kiểm toán nội bộ Theo hiệp hội KTV nội bộ quốc tế (Institue of Internal Auditors) thì “Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập bên trong tổ chức, để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức, nhƣ là một hoạt động phục vụ tổ chức” Có thể thấy, tổ chức kiểm toán nội bộ có vai trò là một công cụ quản lý của các nhà quản lý đơn vị, phục vụ đắc lực cho quản lý hoạt động của chính đơn vị. Trong các đơn vị, tổ chức kiểm toán nội bộ đƣợc thiết lập dƣới hình thức là một bộ phận chuyên môn (Phòng, ban,…) và trực thuộc bộ máy lãnh đạo cao cấp của đơn vị.
Bộ phận chuyên môn này chuyên trách đảm nhận công tác kiểm toán trong nội bộ của đơn vị. Thành viên của tổ chức kiểm toán nội bộ thƣờng bao gồm những ngƣời có trình độ chuyên môn có liên quan đến tài chính kế toán và các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của đơn vị. Tổ chức kiểm toán nội bộ chỉ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của bộ máy lãnh đạo cao cấp trong đơn vị và độc lập với các bộ phận khác của đơn vị. Về nguyên tắc, hoạt động kiểm toán nội bộ thƣờng không đƣợc quy định bởi pháp luật (trừ trƣờng hợp đặc thù nhƣ ở Việt Nam, quy định cho doanh nghiệp nhà nƣớc).
Phạm vi nội dung và mục đích từng cuộc kiểm toán tùy thuộc vào yêu cầu của các nhà quản lý, nhƣng nhìn chung tổ chức kiểm toán nộ bộ có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính. Trƣớc đây, kiểm toán nội bộ rất coi trọng xem xét, đánh giá các thông tin kế toán; nhƣng trong xu thế phát triển ngày nay, lĩnh vực chủ yếu đƣợc coi trọng lại là kiểm toán hoạt động – tức là kiểm tra, đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả của hoạt động trong đơn vị. Kết luận chƣơng 2 Chƣơng 2 đã trình bày một cách hệ thống và khái quát các lý luận về cấu trúc vốn, lợi nhuận của các công ty, các yếu tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã lƣợc khảo một số nghiên cứu thực nghiệm trƣớc về các ảnh hƣởng đến lợi nhuận của các công ty trong và ngoài nƣớc, là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài ở Chƣơng 3.
Chƣơng tiếp theo, tác giả sẽ tập trung trình bày về mô hình nghiên cứu, dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM 3. Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của các công ty kiểm toán Việt Nam 3.