Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài: Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận: Trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, trích dẫn các báo cáo liên quan đến đề tài và các mô hình nghiên cứu tham khảo. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quá trình nghiên cứu, tiến trình nghiên cứu, xây dựng về mô hình nghiên cứu và các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Phân tích các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập được trong quá trình nghiên cứu, bên cạnh đó giới thiệu vài nét về ngân hàng nơi thực hiện nghiên cứu.
6 Chương 5: Kết luận, đề xuất hàm ý quản trị: Dựa trên những phân tích từ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp ở chương 4 tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị phù hợp với vấn đề nghiên cứu và phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp và những hạn chế của đề tài. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Tổng quan lý thuyết về sự hài lòng 2.1 Lý thuyết về sự hài lòng Theo tác giả Fornell (1995) định nghĩa thì sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Đối với Hoyer & MacInnis (2001) thì cho rằng sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích và vui sướng. Còn theo tác giả Hansemark & Albinsson (2004) cho rằng “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn.” Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ.
Tuy nhiên, phổ biến hơn cả là định nghĩa của Kotler (2000): “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ.” Sự hài lòng của khách hàng là khi họ dựa vào những hiểu biết của mình đối với sản phẩm mà đánh giá sản phẩm đó. Sự hài lòng của khách hàng được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm được tích lũy khi sử dụng sản phẩm. Sau khi sử dụng sản phẩm xong khách hàng sẽ so sánh và đánh giá hài lòng hay không. Nếu lợi ích khách hàng nhân được không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng.
Còn nếu lợi ích đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng với sản phẩm.2 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ Theo Zeithaml (1987), cho rằng chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về mức độ hoàn hảo của một thực thể, nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ mà khách hàng nhận được. Còn theo 8 Lehtinen & Lehtinen (1982), chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Theo Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ là chất lượng kỹ thuật là những gì khách hàng nhận được và chất lượng chất năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào. Đối với Parasuraman và cộng sự (1988), đã định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”.
Theo Parasuraman và cộng sự (1988): Chất lượng dịch vụ là "mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ". Mỗi khách hàng sẽ cảm nhận về chất lượng dịch vụ khác nhau. Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng (Cronin và Taylor, 1992; Oliver, 1997; Wang, 2004). Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài long.3 Lý thuyết về dịch vụ tín dụng Theo tác giả Nguyễn Thành Long (2012) trong bài “Đo lường chất lượng dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại tại thành phố Long Xuyên”, dịch vụ tín dụng ngân hàng là hoạt động giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay.
Ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thời gian đã thoả thuận giữa hai bên, và bên đi vay có nghĩa vụ phải trả cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán trong hợp đồng mà hai bên đã kí. Nói một cách đơn giản, dịch vụ tín dụng tiêu dùng là để chỉ số tiền mà người tiêu dùng vay của ngân hàng với mục đích phục vụ cho tiêu dung như mua hàng hóa hoặc dịch vụ. Ngân hàng dựa vào các dịch vụ tín dụng này để sinh lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay, tín dụng được chia làm hai mảng cơ bản đó là tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp.
Tín dụng cá nhân với mục địch phục vụ cho khách hàng là cá nhân có nhu cầu vay để phục vụ cho cuộc sống, sinh hoạt. Tín dụng doanh nghiệp với mục đích phục vụ các khách hàng là doanh nghiệp có nhu cầu vay để mua sắm tài sản, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp.2 Các học thuyết, lý thuyết liên quan 2.1 Mô hình Servqual của tác giả Parasuraman và cộng sự (1988) Mô hình nghiên cứu Servqual của tác giả Parasuraman và cộng sự (1988) về chất lượng dịch vụ thì rất phổ biến và được áp dụng rộng rãi. Theo Parasuraman, thang đo SERVQUAL là một trong những công cụ dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ, đây là một thang đo đạt độ tin cậy và có giá trị. Chính vì vậy thang đo này có thể áp dụng trong các loại hình dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, trường học, các hãng hàng không, du lịch,…Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ và bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể khái quát thành 10 thành phần, đó là: Tin cậy là nói lên sự uy tín, thực hiện đúng cam kết, khả năng thực hiện dịch vụ đúng hạn ngay lần đầu tiên.
Đáp ứng là nói lên khả năng đáp ứng của đội ngũ nhân viên phục vụ và doanh nghiệp. Năng lực phục vụ là nói lên kiến thức, trình độ kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ, thái độ phục vụ để thực hiện dịch vụ: biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho phục vụ khách hàng. Tiếp cận là liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, mạng lưới, địa điểm phục vụ cho khách hàng và sự tương tác của đội ngũ nhân viên phục vụ và doanh nghiệp với khách hàng. Lịch sự là nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng.
Thông tin là liên quan đến việc giao tiếp, truyền đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc. Tín nhiệm nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và thương hiệu công ty, nhân cách của nhân viên dịch vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. An toàn liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng như bảo mật thông tin.
Hiểu biết khách hàng thể hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên. 10 Phương tiện hữu hình thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ khách hàng. Tuy nhiên trong thực tế áp dụng, thang đo Servqual thường được rút ngắn lại thành 5 thang đo gồm: Sự tin cậy, Năng lực phục vụ, Phương tiện hữu hình, Sự đảm bảo, và Sự cảm thông. Sự tin cậy: nói lên việc thực hiện những gì đã cam kết cũng như giữ vững lời hứa với khách hàng.
Đồng thời cung ứng dịch vụ đến khách hàng một cách chính xác, đúng giờ và uy tín. Đáp ứng: Đây được xem là yếu tố tạo nên sự tín nhiệm, tin tưởng cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Được thể hiện thông qua sự phục vụ chuyên nghiệp, có đầy đủ kiến thức chuy ên môn, khả năng giao tiếp tốt và sẵn sàng phục vụ khách hàng một cách kịp thời khi khách hàng cần. Năng lực phục vụ: Thể hiện ở nhân viên có kiến thức chuyên môn, phong cách làm việc chuyên nghiệp tạo cho khách hàng sự tin tưởng.
Bên cạnh đó có khả năng giải quyết vấn đề nhanh chóng, xử lý khiếu nại một cách hiệu quả, sẵn sàng giúp đỡ khách hàng khi cần thiết và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sự cảm thông: Thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc khách hàng một cách chu đáo, đối xử tốt nhất có thể với khách hàng giúp cho khách hàng cảm thấy mình được tôn trọng khi sử dụng dịch vụ. Ngân hàng quan tâm khách hàng càng nhiều thì sự cảm thông của khách hàng sẽ càng tăng.