Rủi ro thanh khoản và tín dụng tới sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam

Luận văn phân tích rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và tác động đến sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2018.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG

TÓM TẮT

ABSTRACT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa nghiên cứu

1.5. Bố cục trình bày

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM

2.1. Lý luận chung về rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và nhân tố đo lường độ ổn định của ngân hàng

2.2. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

2.3. Tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới độ ổn định của ngân hàng

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Dữ liệu nghiên cứu

2.4.2. Mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

3.1.1. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

3.1.2. Tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đối với sự ổn định của ngân hàng qua phương pháp GMM

3.2. Kết luận và hàm ý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái niệm rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng

Rủi ro thanh khoảnrủi ro tín dụng là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng không có đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, trong khi rủi ro tín dụng xảy ra khi khách vay không thể trả nợ đúng hạn. Luận văn của Hà Văn Bảo từ Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng hai loại rủi ro này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu dữ liệu từ 29 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2008-2018 cho thấy việc quản lý hiệu quả cả rủi ro thanh khoản lẫn rủi ro tín dụng là chìa khóa để đảm bảo độ ổn định của hệ thống ngân hàng, giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính.

1.1. Định nghĩa rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không đủ khả năng cung cấp tiền mặt khi có yêu cầu từ khách hàng. Điều này xảy ra khi tài sản không thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng mà không mất giá trị đáng kể. Quản lý rủi ro thanh khoản đòi hỏi ngân hàng phải duy trì mức dự trữ tiền mặt hợp lý, cân bằng giữa lợi nhuận và an toàn tài chính để đảm bảo độ tin cậy của khách hàng.

1.2. Định nghĩa rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà đối tượng vay không thể hoặc không sẵn sàng thanh toán khoản nợ của họ. Khi rủi ro tín dụng tăng cao, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng sẽ gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến vốn và lợi nhuận. Việc kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua đánh giá tín dụng khách hàng, giám sát danh mục cho vay là nhiệm vụ essential của ngân hàng.

II. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng

Nghiên cứu của Hà Văn Bảo đã phát hiện ra rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam. Khi rủi ro thanh khoản tăng, rủi ro tín dụng có xu hướng giảm, và ngược lại. Điều này bởi vì ngân hàng có thanh khoản cao thường thận trọng hơn trong việc cho vay để bảo vệ vị thế tài chính của mình. Mô hình PVAR (Panel Vector Autoregression) được sử dụng trong luận văn đã xác nhận rằng tác động tương tác của hai loại rủi ro này lên độ ổn định ngân hàng là rất đáng chú ý, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

2.1. Phân tích mối quan hệ ngược chiều

Mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng được giải thích thông qua hành vi quản lý rủi ro của ngân hàng. Khi ngân hàng có thanh khoản dồi dào, họ có thể thoải mái hơn trong việc cấp tín dụng, nhưng lại chịu rủi ro tín dụng cao hơn. Ngược lại, khi rủi ro thanh khoản tăng, ngân hàng sẽ hạn chế cho vay để bảo vệ tiền mặt, từ đó giảm rủi ro tín dụng.

2.2. Tác động tương tác của hai loại rủi ro

Tác động tương tác giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có ý nghĩa thống kê cao trong việc giải thích độ ổn định ngân hàng qua chỉ số Z-score. Khi cả hai rủi ro đều ở mức cao cùng lúc, ngân hàng sẽ gặp khó khăn lớn. Phương pháp GMM trong luận văn chứng minh rằng việc kiểm soát đồng thời cả hai loại rủi ro là cần thiết để đảm bảo ổn định hệ thống tài chính.

III. Tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới độ ổn định ngân hàng

Độ ổn định của ngân hàng được đo lường thông qua chỉ số Z-score, một chỉ báo phổ biến được sử dụng trong các nghiên cứu quốc tế. Luận văn của Hà Văn Bảo đã tiến hành phân tích dữ liệu từ 29 ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian 11 năm (2008-2018) để xác định tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới Z-score. Kết quả cho thấy cả hai loại rủi ro này đều có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến độ ổn định ngân hàng. Đặc biệt, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, tác động này trở nên more pronounced, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý rủi ro hiệu quả cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng.

3.1. Chỉ số Z score và ý nghĩa trong đo lường ổn định

Z-score là chỉ số được tính toán từ lợi nhuận trên tài sản, tỷ lệ vốn trên tài sản và độ lệch chuẩn của lợi nhuận. Chỉ số Z-score cao cho thấy ngân hàng có độ ổn định cao và ít rủi ro vỡ nợ. Ngược lại, Z-score thấp là dấu hiệu cảnh báo rằng ngân hàng đang gặp rủi ro cao. Luận văn sử dụng Z-score làm biến phụ thuộc chính để đánh giá tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.

3.2. Kết quả nghiên cứu từ dữ liệu thực tế

Kết quả từ mô hình GMM (Generalized Method of Moments) trong luận văn cho thấy rủi ro thanh khoản giảm làm tăng độ ổn định ngân hàng, trong khi rủi ro tín dụng tăng làm giảm Z-score. Tác động này consistent với lý thuyết kinh tế và phù hợp với tình hình thực tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp căn cứ thực chứng cho các nhà hoạch định chính sách.

IV. Hàm ý chính sách và khuyến nghị quản lý rủi ro

Dựa trên kết quả nghiên cứu của luận văn, các nhà hoạch định chính sáchquản lý ngân hàng cần tập trung vào quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một cách toàn diện và hiệu quả. Việc kiểm soát rủi ro thanh khoản đòi hỏi ngân hàng duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc hợp lý, trong khi kiểm soát rủi ro tín dụng cần thông qua quy trình đánh giá tín dụng nghiêm ngặtgiám sát danh mục cho vay. Hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần thiết lập quy định rõ ràng về tỷ lệ thanh khoảntỷ lệ nợ xấu để đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.

4.1. Chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản

Chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản cần bao gồm việc duy trì mức dự trữ adequately, đa dạng hóa nguồn vốnquản lý kỳ hạn tài sản-nợ. Ngân hàng nên nâng cao tỷ lệ thanh khoản bằng cách giảm tỷ lệ cho vay dài hạntăng tỷ lệ tiền gửi ngắn hạn. Ngoài ra, việc sử dụng các công cụ quản lý thanh khoản hiện đại như stress testingliquidity coverage ratio là cần thiết.

4.2. Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả đòi hỏi ngân hàng thiết lập quy trình phê duyệt tín dụng chặt chẽ, đánh giá khả năng trả nợ của khách vaytheo dõi danh mục cho vay định kỳ. Ngân hàng cần xây dựng hệ thống rating tín dụng phù hợp, giới hạn cho vay cho một khách hàngđa dạng hóa danh mục khách vay để giảm rủi ro tập trung.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Luận văn rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH HÀ VĂN BẢO RỦI RO THANH KHOẢN VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH HÀ VĂN BẢO RỦI RO THANH KHOẢN VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hƣớng ứng dụng) Mã số: 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.

LÊ ĐẠT CHÍ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thật sự của tác giả với sự hƣớng dẫn của Ngƣời hƣớng dẫn khoa học là TS. Lê Đạt Chí. Nội dung, kết quả nghiên cứu của luận văn này là hoàn toàn trung thực.

Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã đƣợc công bố đầy đủ. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019 Tác giả Hà Văn Bảo MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG TÓM TẮT ABSTRACT CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU .1 Lý do chọn đề tài .2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu.3 Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu .4 Ý nghĩa nghiên cứu.5 Bố cục trình bày. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM .1 Lý luận chung về rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và nhân tố đo lƣờng độ ổn định của ngân hàng .Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng .3 Tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới độ ổn định của ngân hàng .2 Phƣơng pháp nghiên cứu .1 Dữ liệu nghiên cứu .2 Mô hình nghiên cứu. 26 CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .1 Thảo luận kết quả nghiên cứu.1 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng .2 Tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đối với sự ổn định của ngân hàng qua phƣơng pháp GMM .2 Kết luận và hàm ý.

47 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG Bảng 2-1.Danh sách tên các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam .Các biến trong mô hình và cách thức đo lƣờng .Thống kê mô tả các biến.Ma trận hệ số tƣơng quan của các biến .Kết quả kiểm tra mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Kết quả kiểm định tính dừng .Lựa chọn độ trễ tối ƣu dựa trên mô hình VAR.Kết quả kiểm tra mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng theo mô hình PVAR. Kết quả ƣớc lƣợng tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới sự ổn định của ngân hàng. Kết quả kiểm tra sự tƣơng quan giữa các biến tới sự ổn định của ngân hàng.

Kiểm định Hausane. 47 TÓM TẮT Để đo lƣờng sự ổn định trong hoạt động của ngân hàng, các bài nghiên cứu trên thế giới thƣờng sử dụng hai yếu tố rủi ro để đo lƣờng là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Bài nghiên cứu này tiến hành kiểm tra tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đối với sự ổn định của ngân hàng đƣợc đại diện bởi hệ số Z –core qua việc phân tích và thu thập số liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thƣờng niên của 29 ngân hàng thƣơng mại hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018. Bằng việc sử dụng các ƣớc lƣợng trong mô hình PVAR và mô hình GMM xác định mối quan hệ của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng nhƣ tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng đối với hệ số Z –core đại diện cho sự ổn định của ngân hàng.

Kết quả bài nghiên cứu này đã tìm thấy có mối quan hệ ngƣợc chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng; rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng nhƣ sự tƣơng tác của hai loại rủi ro này có gây tác động đáng kể đến sự ổn định của ngân hàng thƣơng mại hoạt động tại Việt Nam. Hàm ý từ kết quả luận văn cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng; tác động của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới sự ổn định của ngân hàng qua biến đại diện Z-core để từ đó năng cao việc kiểm soát rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng để đảm bảo sự ổn định của ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam. ABSTRACT To measure the stability of banking operations, researches in the world often use two risk factors to measure: liquidity risk and credit risk. This paper examines the impact of liquidity and credit risks on the stability of banks represented by the Z -core coefficient by analyzing and collecting data from financial statements.

The auditor has audited and annual report of 29 commercial banks operating in Vietnam during 2008- 2018. Using estimates in the PVAR model and the GMM model determine the relationship of liquidity risk and credit risk as well as the impact of liquidity risk and credit risk on the coefficient Z - The core represents the stability of the bank. The results of this study have found an inverse relationship between liquidity risk and credit risk; liquidity risk and credit risk as well as the interaction of these two types of risks have a significant impact on the stability of commercial banks operating in Vietnam. Implications from the thesis results show the relationship between liquidity risk and credit risk; The impact of liquidity and credit risks on the stability of banks through the Z-core representative variable from which to enhance the control of liquidity and credit risks to ensure the stability of commercial banks in Vietnam.

1 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài Khi một hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả và lành mạnh sẽ góp phần duy trì và ổn định tăng trƣởng kinh tế. Theo thời gian cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng hoạt động với của quy mô ngày càng lớn, các sản phẩm kinh doanh mở rộng, đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đi kèm với việc mở rộng thị trƣờng kinh doanh khiến cho ngân hàng thƣơng mại phải đối mặt và xử lý các nghiệp vụ về rủi ro ngày càng nhiều. Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ đối mặt trực tiếp với các nguy cơ nhƣ giảm uy tín, mất khả năng thanh toán,… và trƣờng hợp xấu nhất là phải nộp đơn phá sản.

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ là minh chứng rõ nét về sự ảnh hƣởng của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tới tình hình hoạt động của các ngân hàng. Với việc duy trì chính sách tiền tệ mở rộng của Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED) từ đầu năm 2000-2004 và nỗ lực duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế sau thời tổng thống Bill Clinton đã làm cho lãi suất chiết khấu ở mức thấp nhằm thúc đẩy thị trƣờng tín dụng phát triển (trong đó nổi bật nhất là cho vay để mua nhà- tín dụng thứ cấp nhà ở). Kết quả là thị trƣờng nhà đất phát triển “nóng” (bởi niềm tin của công chúng về sự an toàn khi nắm giữ các loại tài sản tài chính khác nhau cho rằng đây là tài sản có giá trị thực tế hơn là nắm giữ các loại cổ phiếu công nghệ, cũng nhƣ việc Chính phủ Mỹ nới lỏng các điều kiện đi vay trong đó có quy định sở hữu nhà ở của ngƣời dân Mỹ đã trở nên dễ dàng hơn). Chớp lấy thời cơ các ngân hàng và định chế tài chính khác ở Mỹ nhanh chóng thu gom các hợp đồng vay nợ, gói ghém lại và tung ra thị trƣờng những trái phiếu phái sinh đƣợc bảo đảm bằng các hợp đồng cho vay bất động sản (MBS), cũng nhƣ phát triển mạnh các loại trái phiếu phái sinh đƣợc bảo đảm với những hợp đồng cho vay nợ (CDO).

Các bên cho vay đã không nghiêm túc thực hiện thẩm định rủi ro tín dụng, kiểm tra khả năng hoàn vốn của những bên đi vay nợ mà chỉ tập trung 2 vào thành tích lập và bán các hợp đồng này càng nhiều càng tốt. Để bảo hiểm nguy cơ xảy ra nợ xấu, các nhà đầu tƣ những sản phẩm phái sinh nêu trên lại tiến hành mua những hợp đồng “Bảo đảm nợ xấu” (CDS). Sau đó các hợp đồng cho vay bất động sản đã biến thành các khoản nợ xấu do thị trƣờng nhà đất ở Mỹ bắt đầu suy thoái từ năm 2006. Cũng trong giai đoạn này lãi suất cơ bản bắt đầu tăng lại khiến ngƣời đi vay khó có thể trả lãi.

Các trái phiếu phái sinh MBS không những mất giá mà còn bị từ chối giao dịch. Các nhà đầu tƣ nắm giữ loại trái phiếu này lâm vào tình trạng mất thanh khoản, mất khả năng thanh toán (trong đó các ngân hàng và định chế tài chính). Tóm lại ngân hàng đã đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay thế chấp dƣới chuẩn bằng cách tạo ra các khoản thế chấp hay mua các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản thế chấp- đại diện cho các khoản vay thế chấp dƣới chuẩn với kỳ vọng ngân hàng kiếm đƣợc lãi suất cao hơn so với các khoản thế chấp dƣới chuẩn. Nhƣng thực tế là sau đó giá trị của tài sản đảm bảo giảm xa so với giá trị khoản thế chấp.

Bài học từ cuộc khủng hoảng này là khi ngân hàng có chiến lƣợc cho vay để đạt lợi nhuận cao thì phải nhận diện đầy đủ các loại rủi ro. Từ đây có thể thấy rằng cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã bắt đầu từ việc ngân hàng chấp nhận đánh đổi rủi ro rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng để thu lợi nhuận lớn nhất cho hoạt động kinh doanh của mình mà không có nhận diện đủ rủi ro. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại là nơi cung cấp các nguồn vốn cho nền kinh tế: từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn. Mà để làm đƣợc điều đó, ngân hàng sẽ thông qua các hoạt động cơ bản của mình là huy động vốn và cho vay.

Những hoạt động này của ngân hàng đã chứa đựng nhiều loại rủi ro. Trong đó dễ dàng nhận biết các loại rủi ro cơ bản của ngân hàng là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Xuất phát của rủi ro tín dụng là trong trƣờng hợp các khách hàng đi vay vi phạm các điều kiện trong hợp đồng tín dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ