Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay DNVVN tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Gia Lai Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Gia Lai download by : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm cho vay Trong nền kinh tế thị trường, NHTM có thể coi là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, ngân hàng cần phải sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất. Tín dụng chính là hoạt động cơ bản đem lại nguồn lợi nhuận cho ngân hàng. Theo Bùi Diệu Anh (2013, trang 102): “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của tín dụng ngân hàng như sau: Theo Bùi Diệu Anh (2013, trang 102-108): + Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký.
+ Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. + Sự hoàn trả cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. + Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện. Trong thực tế chúng ta thường nhầm lẫn hoạt động cho vay với hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng rộng hơn hoạt động cho vay rất nhiều, cho vay chỉ là một hình thức tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên ở các ngân hàng hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ở các ngân hàng. Cho nên thuật ngữ tín dụng có thể hiểu theo nghĩa rộng khái quát trên hoặc hiểu theo nghĩa download by : skknchat@gmail.com 2 hẹp là cho vay. Theo luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm Theo nghị định số: 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xây trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn tham khảo: Chính phủ 2009, nghị định Chính phủ số: 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
download by : skknchat@gmail.com 3 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ: DNVVN là loại hình doanh nghiệp năng động trong kinh doanh và hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề. DNVVN mang trong bản thân những những điểm mạnh và điểm yếu mang tính đặc thù. Cụ thể: + Ưu điểm: - Doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ chế quản lý gọn nhẹ; năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với những thay đổi: Trong DNVVN người chủ doanh nghiệp thường là người giải quyết mọi vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Ngoài ra do cơ cấu gọn nhẹ nên các bộ phận trong DNVVN có điều kiện tiếp xúc với nhau tránh được nguy cơ sai lệch thông tin khi truyền qua các bộ phận.
DNVVN có tính linh hoạt cao hơn đặc biệt trong việc ra quyết định, không phải qua quá nhiều khâu, nhiều cấp mất nhiều thời gian dẫn tới vuột mất cơ hội kinh doanh. Chính điều này giúp DNVVN có thể thay đổi nhanh chóng mục đích, chiến lược, quyết định và tiến tới là hành động.Vì thế, DNVVN dễ thích nghi với những thay đổi trong hoạt động kinh doanh. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ tận dụng tối đa nguồn lực (tài sản, vốn, lao động,…) trong sản xuất kinh doanh: Phần lớn DNVVN hoạt động mang tính chất gia đình, nên các doanh nghiệp này nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ các thành viên trong gia đình về vốn, kinh nghiệm hoạt động kinh doanh. Ngoài các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề đặc thù không cần vốn lớn nhưng cần lao động có trình độ cao thì hầu hết các DNVVN chủ yếu có đội ngũ lao động không cần trình độ cao.
Với ưu thế lao động phổ thông dồi dào ở thị trường lao động Việt Nam nên DNVVN có nhiều thuận lợi trong việc tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên DNVVN cũng gặp nhiều khó khăn: - Hoạt động không theo một quy luật hay một chiến lược định sẵn nào. DNVVN thường hoạt động mang tính tự phát, kinh nghiệm. Kinh doanh thường dựa vào thời cơ, tín hiệu của thị trường mà ít khi hoạch định chiến lược kinh doanh trung, dài hạn rõ ràng.
Trong xu hướng hội nhập toàn cầu, thiếu chiến lược và sách lược trong download by : skknchat@gmail.com 4 kinh doanh là yếu điểm khó có thể chấp nhận được. Chính điều này khiến cho các DNVVN mất đi năng lực cạnh tranh, trở thành nạn nhân của quá trình hội nhập, bị đánh bại hoặc trở thành các doanh nghiệp vệ tinh, doanh nghiệp gia công…. - Khó khăn về nguồn lực tài chính. Các DNVVN khai thác nguồn vốn chủ yếu từ hai nguồn: nguồn vốn phi chính thức và nguồn vốn chính thức.
Thực tế, DNVVN rất khó có thể huy động vốn từ thị trường tài chính. Đối với nguồn vốn chính thức như khả năng tiếp cận những định chế tài chính trung gian vô cùng khó khăn. Nguyên nhân có thế xuất phát từ chính bản thân doanh nghiệp như không có tài sản thế chấp, phương án kinh doanh không khả thi, hiệu quả thiếu sức thuyết phục ngân hàng cho vay hoặc do các quy định của ngân hàng như thủ tục vay vốn quá phức tạp hoặc lãi suất quá cao. - Thiếu nguồn lực trong tăng trưởng: vốn kỹ thuật, tri thức lao động hầu như khó gia nhập vào các DNVVN.
Máy móc thiết bị lạc hậu, phần lớn là máy móc thiết bị tự chế tạo, công nghệ thấp. Nếu nhập khẩu thì đa phần là máy móc thiết bị đã qua sử dụng và cũng đã lạc hậu bị đào thải. Nguyên nhân của vấn đề này là do doanh nghiệp thiếu vốn để trang bị công nghệ, thiếu thông tin về công nghệ hiện đại cập nhật nhất. Ngoài ra trình độ cán bộ quản lý và lao động còn hạn chế.
Do phần lớn các DNVVN là các công ty gia đình với mô hình tự quản nên các cấp quản lý đến các phòng ban có thể chỉ là một người hoặc những người có mối quan hệ gia đình chưa qua các trường lớp đào tạo cơ bản về kỹ năng quản lý và kinh doanh. Lao động trong DNVVN chủ yếu là lao động thủ công, tay nghề thấp. - Quy mô sản xuất: Do vốn tự có của DNVVN thường thấp, khó tăng quy mô do thiếu tiềm lực tài chính. Quy mô nhỏ kìm hãm sự phát triển của quy mô lớn, quy mô nhỏ thì khó có thể đạt được lợi thế tiết kiệm do quy mô.
Những đặc thù trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ các nội dung trên, có thể hiểu: Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng thương mại giao cho doanh nghiệp vừa và nhỏ một khoản tiền sử dụng vào một mục đích nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. download by : skknchat@gmail.com 5 Nhu cầu vốn của DNVVN rất lớn nếu xét trên tổng thể. Các ngân hàng thương mại luôn có thể đáp ứng nhu cầu vốn của DNVVN. Tuy nhiên trên thực tế các DNVVN thường khó đáp ứng hết các yêu cầu cấp tín dụng của ngân hàng dẫn đến việc nhận được vốn vay gặp khó khăn.
Hiện nay, các DNVVN ngày càng khẳng định được vai trò của mình, thu hút sự chú ý của các ngân hàng, trở thành thị trường đầy tiềm năng của ngân hàng. Họat động cho vay DNVVN tại các ngân hàng thương mại mang các đặc thù cơ bản sau: (i) Về quy mô, chi phí thẩm định Xuất phát từ quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN không lớn nên quy mô cho vay đối với DNVVN thường thấp, thuộc thị trường bán lẻ của ngân hàng. Về chi phí thẩm định: Chi phí thẩm định đối với DNVVN được đánh giá là cao do khoản vay nhỏ nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng. Ngoài ra, do quy mô khoản vay đối với DNVVN nhỏ, số lượng khoản vay nhiều dẫn đến chi phí xét duyệt, theo dõi khoản vay tính trên một đơn vị tiền vay lớn.
Điều này đòi hỏi phải có một phương pháp thẩm định phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao, ví dụ sử dụng phương pháp cho điểm tín dụng thay vì phương pháp chuyên gia (xem xét từng khoản vay một) như với doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, hồ sơ DNVVN thường ít phức tạp nên khâu soạn thảo, lưu trữ hồ sơ đơn giản hơn so với cho vay doanh nghiệp lớn.