lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thanh khoản, quản trị rủi ro thanh khoản trong Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại SCB. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại SCB. download by : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN TRONG NHTM 1. Khái niệm thanh khoản Với một ngân hàng tính thanh khoản đƣợc xét trên ba góc độ tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn và tính thanh khoản của ngân hàng, trong đó tính thanh khoản của ngân hàng đƣợc tạo lập với tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn. Tính thanh khoản của tài sản Đứng dƣới góc độ tài sản, thanh khoản (Liquidity) đƣợc hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản đƣợc đo bằng thời gian và chi phí. Chi phí ở đây đƣợc hiểu là tổn thất (giảm giá) của tài sản.
Ví dụ giá trị của tài sản là 10 đơn vị, nhƣng khi cần bán chỉ thu đƣợc 9 đơn vị, 1 đơn vị tổn thất đƣợc coi là chi phí để chuyển tài sản thành tiền. Một tài sản đƣợc coi là có tính thanh khoản cao nếu việc chuyển tài sản đó thành tiền mất thời gian ngắn và chi phí thấp. Ngƣợc lại, một tài sản mất thời gian dài hoặc chi phí cao để chuyển thành tiền thì tài sản đó bị coi là có tính thanh khoản thấp. Ngân hàng nắm giữ tài sản với tính thanh khoản khác nhau.
Kết cấu của tài sản với tính thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của nhóm tài sản hoặc của cả danh mục tài sản. Tính thanh khoản của nguồn Tính thanh khoản của nguồn là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, đƣợc đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn khi cần thiết. Thời gian và chi phí càng thấp thì tính thanh khoản của nguồn càng cao và ngƣợc lại. Tính thanh khoản của ngân hàng Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn với một chi phí hợp lý.
Đối với NHTM thì tính thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, download by : skknchat@gmail.com 2 rút tiền và xin vay mới theo các yêu cầu cấp tín dụng hợp lệ của khách hàng. Tính thanh khoản của một ngân hàng đƣợc tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ và tính thanh khoản của nguồn, tức là từ tài sản hiện có (dự trữ) và nguồn vốn có thể huy động mới. Một ngân hàng có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh toán hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai điều trên. Các tài sản thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại Tài sản có tính thanh khoản cao là những tài sản có khối lƣợng giao dịch rất lớn do nó dễ dàng đƣợc chuyển đổi thành tiền mặt.
Tài sản thanh khoản phải có các đặc điểm sau: - Phổ biến trên thị trƣờng nên có thể chuyển hoá ra tiền một cách nhanh chóng. - Giá cả ổn định để không ảnh hƣởng đến tốc độ và doanh thu bán tài sản. - Ngƣời bán có thể mua lại dễ dàng với giá không cao hơn nhiều so với giá cả đã bán ra để khôi phục khoản đầu tƣ ban đầu. Tại các ngân hàng thƣơng mại, các tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao gồm: - Tiền mặt tại quỹ bao gồm bốn loại tài sản bằng tiền như sau: + Tiền giấy và tiền kim loại tại két sắt của ngân hàng, dùng để thanh toán cho khách hàng, các khoản tiền nhỏ hàng ngày và các khoản cho vay đột xuất.
+ Tiền gửi dự trữ ở ngân hàng nhà nƣớc: do các biện pháp phòng ngừa phải tiến hành, các ngân hàng gửi một khối lƣợng tiền giấy và tiền kim loại ở mức tối thiểu và an toàn tại Ngân hàng nhà nƣớc. Dự trữ ở ngân hàng nhà nƣớc từ năm 2008 tới 2012 có những thay đổi về tỷ lệ dữ trữ. Cụ thể là: Theo Quyết định 2951/2008/QĐ-NHNN về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc (DTBB) đối với các tổ chức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dƣới 12 tháng bằng VND đối với NHTM là 6% trên tổng số dƣ tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, trừ Agribank và ngân hàng phát triển là 3%. Còn download by : skknchat@gmail.com 3 đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 2%.
Theo quyết định 379/2009/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dƣới 12 tháng bằng VND đối với NHTM là 3% trên tổng số dƣ tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, riêng Agribank tỷ lệ này là 1%. + Tiền gửi dự trữ ở ngân hàng chi nhánh, nhiều ngân hàng lớn trong một số khu vực ở trong nƣớc phục vụ nhƣ là “tổng kho” của các ngân hàng nhỏ. + Các khoản tiền trong quá trình thu, các khoản tiền trong lãnh vực thanh toán sẽ thu trong thời gian ngắn. - Chứng từ có giá ngắn hạn: Các chứng từ có giá ngắn hạn ngân hàng đang nắm giữ nhƣ kỳ phiếu, tín phiếu kho bạc.
Đây cũng là dự trữ của ngân hàng có tính thanh khoản cao. - Đầu tư chứng khoán: Các ngân hàng thƣơng mại đầu tƣ vào các chứng khoán vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoá hoạt động để nâng cao lợi tức. Ngoài ra có thể kể đến tài sản cho vay ngắn hạn vừa có tính thanh khoản lại vừa có tính sinh lời. Nhƣ vậy, trong chiến lƣợc quản trị thanh khoản dựa trên tài sản “Có”, một ngân hàng đƣợc coi là quản trị thanh khoản tốt nếu ngân hàng này có thể tiếp cận nguồn cung thanh khoản với chi phí hợp lý, số lƣợng vừa đủ theo yêu cầu và kịp thời.
Quan hệ giữa tài sản thanh khoản và tài sản kinh doanh Khi nói đến tài sản kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại là nói đến các tài sản có khả năng sinh lời chủ yếu cho ngân hàng nhƣ các chứng từ có giá ngắn hạn, đầu tƣ chứng khoán và các tài sản tín dụng trong đó chiếm phần lớn là cho vay. Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng thƣơng mại. Trong hoạt động tín dụng, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là kiếm đƣợc lợi nhuận trên cơ sở phục vụ nhu cầu tín dụng của khách hàng. Nhà quản trị ngân hàng cũng phải quyết định phân chia vốn trong phạm vi các khoản mục cho vay, nghĩa là vốn phải đƣợc phân thành các khoản cho vay nhƣ: tín dụng sản xuất kinh doanh, tín dụng tiêu dùng, tín dụng tài sản cố định, tín dụng khác… download by : skknchat@gmail.com 4 Tính thanh khoản và khả năng sinh lời là hai mặt luôn tồn tại và gắn liền với mọi tài sản của các NHTM.
Tài sản nào có tính thanh khoản càng cao thì mức sinh lời hay là chịu rủi ro càng thấp và ngƣợc lại, tài sản có tính thanh khoản thấp thì mức sinh lời và rủi ro của nó sẽ cao. Hay nói cách khác, tính thanh khoản và khả năng sinh lời của tài sản có mối quan hệ nghịch. Đối với mỗi NHTM, khi họ muốn tối thiểu hóa rủi ro nói chung và rủi ro thanh khoản nói riêng thì cần tăng các tài sản có tính thanh khoản tốt và giảm các tài sản có khả năng sinh lời cao và ngƣợc lại, khi họ theo đuổi mục tiêu tăng trƣởng lợi nhuận thì giảm các tài sản có tính thanh khoản tốt và tăng các tài sản có khả năng sinh lời cao trong phạm vi cho phép trong việc quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín áp dụng theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ra ngày 19/04/2005, hay Thông tƣ 13/2010/TT-NHNN ra ngày 20/05/2010, hay Thông tƣ 22/2011/TT-NHNN ra ngày 30/08/2011. Sự ra đời của thông tƣ 13 thay thế cho quyết định 457 có ƣu điểm là tăng cƣờng khả năng và quản lý thanh khoản.
Ở quyết định 457, hệ số rủi ro lớn nhất ở mức 150% (tƣơng đƣơng với Basel III), nhƣng ở thông tƣ 13, hệ số rủi ro lớn nhất là 250% đối với các khoản cho vay công ty chứng khoán và cho vay bất động sản, hệ số rủi ro của những khoản vay đối với công ty con, công ty liên doanh liên kết tăng từ 100% lên 150%. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua các NHTM vẫn ồ ạt cho vay trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản và hậu quả dẫn tới nợ xấu tăng do không thu hồi đƣợc nợ từ các công trình xây dựng dở dang, bất động sản đóng băng, sụt giá. Thông tƣ 13 cũng quy định tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của NHTM không vƣợt quá 80%, trong đó nguồn vốn huy động ở đây không tính tiền gửi không kỳ hạn ở kho bạc nhà nƣớc, bảo hiểm xã hội và các tổ chức khác. Mà theo Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, tỷ lệ của nguồn này thƣờng chiếm từ 15- 20% tổng nguồn vốn huy động của NHTM.
Quy định này giúp các NHTM tăng khả năng thanh khoản và hạn chế đƣợc rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng và rủi ro thanh toán. download by : skknchat@gmail. QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NHTM 1. Rủi ro thanh khoản 1.
Khái niệm về rủi ro thanh khoản Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con ngƣời. Xã hội loài ngƣời càng phát triển, hoạt động của con ngƣời càng đa dạng, thì nhiều loại rủi ro mới phát sinh. Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc. Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực, theo nghĩa rủi ro có thể mang đến cho con ngƣời những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhƣng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ không ngờ.
Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng rủi ro, chúng ta có thể tìm ra đƣợc những biện pháp phòng ngừa, hạn chế mặt tiêu cực và tận dụng, phát huy mặt tích cực do rủi ro mang tới.