Chương I, giải thích lý do chọn đề tài. Chương II giải thích như thế nào gọi là “làn sóng Hàn Quốc”, “làn sóng Hàn Quốc” phát triển như thế nào? Chương III nghiên cứu sâu các nội dung như “Giới thiệu về nền điện ảnh Hàn Quốc; Làn sóng điện ảnh Hàn Quốc ở khu vực châu Á, Làn sóng điện ảnh Hàn Quốc ở Mỹ, Tây Âu và các nước khác; Làn sóng điện ảnh Hàn Quốc ở Việt Nam. Trong Chương IV, tác giả chỉ ra những nguyên nhân thành công của làn sóng điện ảnh Hàn Quốc như sự quan tâm của chính phủ, đầu tư về kinh phí, êkíp làm phim hoàn hảo, hình thức quảng cáo cho phim. Tiếp đến, trong chương V chỉ ra những hạn chế của làn sóng điện ảnh Hàn Quốc, và đưa ra những bài học cho Việt Nam (chương VI).
Bài viết “Tâm lý học nghệ thuật: cấp độ nhu cầu điện ảnh” của tác giả Hoàng Trần Doãn, đăng trên tạp chí Tâm Lý Học, số 3 (72) năm 2005 (tr. Trong bài viết này, trên cơ sở lý thuyết về tâm lý người, tác giả phân chia nhu cầu điện ảnh của công chúng thành các cấp độ cơ bản từ thấp đến cao như sau: 1- Cấp độ nhu cầu giải trí; 2- Cấp độ nhu cầu thông tin; 3- Cấp độ nhu cầu cảm thụ; 4- Cấp độ nhu cầu sáng tạo. Trong đó, cấp độ nhu cầu giải trí là một cấp độ mà chủ thể sử dụng sản phẩm điện ảnh chỉ nhằm làm cho trí óc của mình được thảnh thơi, vui vẻ. Cấp độ nhu cầu thông tin là cấp 7 độ mà chủ thể có thể thỏa mãn nhu cầu nhận thức, nhu cầu về cái mới chưa có trong vốn kinh nghiệm của mình bằng các thông tin thu thập được qua nội dung của các tác phẩm điện ảnh.
Cấp độ nhu cầu cảm thụ là cấp độ mà chủ thể mong muốn thỏa mãn nhu cầu điện ảnh của mình bằng việc cảm thụ tác phẩm, chiếm lĩnh những giá trị tinh thần có trong tác phẩm và tạo ra cho mình những khoái cảm thẩm mỹ. Nhu cầu sáng tạo là cấp độ mà chủ thể thoả mãn nhu cầu điện ảnh của mình không chỉ ở sự cảm thụ tác phẩm, chiếm lĩnh những giá trị tinh thần có trong tác phẩm, mà còn mong muốn tạo ra cho mình những khoái cảm thẩm mỹ bằng việc kết hợp các xúc cảm, sự tưởng tượng của mình để tạo ra cho mình các biểu tượng nghệ thuật mới. Như vậy, ở cấp độ này, công chúng điện ảnh không dừng lại ở mức độ đơn thuần là việc đi xem, tiếp thu, lĩnh hội tác phẩm điện ảnh, mà hướng tới sự sáng tạo, không chỉ đòi hỏi hưởng thụ cái đẹp của nghệ thuật mà là khát vọng đạt đến cái hay cái đẹp của chính mình. Bài viết “Bao giờ Việt Nam có nhà sản xuất phim thực thụ” của Việt Trần, đăng trên trang điện tử Văn nghệ ngày 15/7/2006.
Tác giả bài viết cho rằng, cái khó hiện nay là ở Việt Nam chưa thật sự có những nhà sản xuất phim chuyên nghiệp. Đồng thời, Việt Nam đang tồn tại hai kiểu nhà điều hành sản xuất: một là, giám đốc các hãng phim thuộc đài truyền hình nhà nước; hai là, các “ông bầu” bỏ tiền ra thành lập các hãng phim tư nhân. Đối với các giám đốc hãng phim nhà nước thì họ dường như chỉ làm mỗi việc là duyệt chi tiền cho các đoàn làm phim mà không “đi theo” từ đầu đến cuối một bộ phim như một nhà sản xuất phim thực sự. Còn đối với các “ông bầu” tư nhân thì họ hoạt động tích cực hơn.
Nhưng cái cách mà các “ông bầu” làm để tạo nên một bộ phim ăn khách nhất thời hơn là một bộ phim xuất sắc thực sự. Một thực tế khác của các nhà sản xuất phim Việt lúc bấy giờ là chưa mạnh dạn đầu tư kinh phí để nâng cao chất lượng một tác phẩm điện ảnh. Hoặc nhà sản xuất can thiệp quá sâu vào công tác biên kịch phim, họ vô tình hạn chế 8 chất nghệ thuật, khả năng sáng tạo của nhà biên kịch khi đưa ra những yêu cầu cụ thể về bối cảnh phim, dạng, tuyến nhân vật và thậm chí là chủ đề phim. Đó chính là những hạn chế lớn đối với lực lượng nhà sản xuất phim ở Việt Nam giai đoạn năm 2006.
Và đến nay, sau gần 10 năm bài viết này ra đời, thì thực tế vẫn chưa có nhiều tiến triển, thị trường phim Việt vẫn quá ít phim đạt chất lượng cao cả về nghệ thuật và doanh thu phòng vé. Điều đó đã phản ánh rõ thực tế yếu kém của các nhà sản xuất phim Việt trong bối cảnh hội nhập như hiện nay. Bài viết “Nhìn lại phim truyện Việt Nam từ 1986 đến 2012” của tác giả Đặng Minh Liêm in trong tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 345, tháng 3 – 2013 (tr. Qua bài viết đã phản ánh thực trạng phát triển phim truyện Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000 và từ năm 2000 đến năm 2012.
Theo tác giả, trong giai đoạn 1986 – 1990, nền điện ảnh Việt Nam vẫn chưa phát triển linh động do cơ chế bao cấp. Lúc này, thị trường phim truyện Việt bị chi phối bởi các hãng phim nhà nước là chính. Từ năm 1989, cơ chế thị trường bắt đầu có những tác động đến thị trường điện ảnh Việt Nam với sự xuất hiện của một số đơn vị tư nhân tham gia vào hoạt động sản xuất phim. Và từ cuối những năm 80 đến thập kỷ 90 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của dòng phim thị trường (còn gọi là phim “Mì ăn liền”) với sự tham gia mạnh mẽ của nhiều đơn vị tư nhân trong lĩnh vực điện ảnh.
Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến vấn đề cơ chế chính sách của nhà nước đã giúp cho nền điện ảnh Việt Nam thích nghi hơn với môi trường kinh tế - xã hội mới như Quyết định số 417/CT về việc sắp xếp tổ chức lại ngành điện ảnh được ban hành năm 1991; Nghị định số 48/CP của Thủ tướng chính phủ ban hành năm 1995 về tổ chức và hoạt động điện ảnh; Nghị định số 90/CP của Thủ tướng chính phủ ban hành năm 1997 về xã hội hóa văn hóa nghệ thuật, trong đó có hoạt động điện ảnh. Luận văn thạc sỹ “Quản lý chương trình phim truyện truyền hình Việt Nam trên kênh BTV1 đài truyền hình Bình Dương giai đoạn từ năm 2010 đến 9 nay” của Phan Thị Phương Thùy. Tác giả đã đề cập đến một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với công tác quản lý phim truyện truyền hình như khái niệm về quản lý phim truyện; quản lý chương trình phim truyện truyền hình, đặc trưng của phim truyện truyền hình,. Bên cạnh đó, tác giả phân tích một số vấn đề như thực trạng chương trình phim truyện truyền hình Việt Nam phát sóng trên kênh BTV1; những thành tựu và hạn chế trong việc phổ biến phim truyện truyền hình trên kênh BTV1.
Một đóng góp khác của công trình này là các giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lý đối với chương trình phim truyện truyền hình Việt Nam phát sóng trên kênh BTV1 như đa dạng hóa thể loại và nội dung phim chuyên biệt, đặc sắc; nâng cao vị trí của phim truyện truyền hình Việt Nam, gia tăng dấu ấn và ảnh hưởng của khuân mẫu văn hóa lên tác phẩm phim truyện truyền hình Việt Nam; hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về truyền hình; nâng cao năng lực quản lý công tác truyền hình,… Bài viết “Ở đâu thị trường điện ảnh Việt Nam” của PGS. TS Trần Luân Kim, đăng trên trang online Thế giới điện ảnh ngày 27/10/2014. Bằng những quan sát của mình, người viết đã có những phân tích về thị trường điện ảnh Việt Nam thời điểm năm 2014. Theo tác giả, vào thời điểm đó, thị trường điện ảnh Việt Nam phát triển rất sôi động, mạnh mẽ với biên độ lợi nhuận lớn.
Đó chính là sức hấp dẫn lớn để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất phim trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, thị trường điện ảnh Việt Nam đang phát triển tự do, tự phát mà thiếu bàn tay điều phối, quản lý của nhà nước. Thực trạng này nếu kéo dài thì chắc chắn, khi nền điền ảnh Việt Nam hội nhập hoàn toàn với quốc tế, với sự tham gia toàn diện và mạnh mẽ của những “ông lớn” điện ảnh của thế giới thì không bao lâu, các sản phẩm điện ảnh Việt Nam chỉ còn bên lề cuộc chơi. Để khắc phục thực trạng đó, tác giả bài viết đề xuất giải pháp “ngay lúc này, cần nhận thức và hành động sát hợp, kịp thời; tăng cường quản lý nhà nước một cách thiết thực, hiệu quả với chính sách, cơ chế ph hợp; đồng thời thực hiện thấu đáo uy hoạch 10 phát triển điện ảnh, nhằm thiết thực bảo vệ thị trường điện ảnh – c ng là thiết thực bảo vệ nền điện ảnh dân tộc phát triển đúng hướng, vững bền”.
Bài viết “Phim truyền hình Việt: sẽ đến lúc sòn sòn 30 tập/ngày” của tác giả Văn Bảy, đăng trên trang điện tử Thể thao & Văn hóa ngày 03/3/2015. Tác giả bài viết cho rằng, tính đến năm 2015, số lượng phim truyền hình do các đơn vị sản xuất phim tư nhân cung cấp chiếm 90% tổng số phim truyền hình được phát sóng trên các kênh truyền hình toàn quốc. Tuy nhiên, theo ý kiến của đạo diễn Đỗ Thanh Hải (Giám đốc hãng phim VFC) thì “Trên thực tế, chất lượng nội dung, kịch bản phim truyền hình hiện nay chưa có nhiều bứt phá. Đề tài phim chủ yếu chia 2 mảng: phim chính luận (vấn đề gia đình, xã hội, cảnh sát điều tra phá án) và phim tâm lý tình cảm (tình yêu tuổi trẻ, lập nghiệp, đời sống học sinh, sinh viên).
Các đề tài này nếu không tiếp tục mở rộng sẽ làm phim truyền hình Việt rơi vào tình trạng nhàm chán, lặp lại”. Như vậy, việc tăng số lượng các phim truyền hình để phục vụ nhu cầu của các đài truyền hình, đồng thời c ng thực hiện mục tiêu theo tinh thần của Nghị định số 54/2010/NĐ-CP quy định tỷ lệ thời lượng phát sóng phim Việt phải đạt ít nhất 30% so với tổng thời lượng phát sóng phim của mỗi đài truyền hình là tất yếu, nhưng số lượng chưa thể là thước đo chuẩn mực để đánh giá mức độ phát triển của thị trường phim truyền hình Việt Nam hiện nay. Bài viết “Sản xuất phim truyền hình: không còn là miếng bánh màu mỡ” của nhóm tác giả Dương Vân Anh - Hoàng Nhân - Văn Bảy, đăng trên trang điện tử Thể thao & Văn hóa ngày 19/8/2015. Bài viết phân tích những khó khăn hiện nay trong việc sản xuất phim truyền hình Việt Nam.