CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. THẺ NGÂN HÀNG VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG THẺ 1. Thẻ ngân hàng 1. Khái niệm: Thẻ ngân hàng (dưới đây gọi tắt là thẻ) theo Thông tư số 19/2016/TT- NHNN [12]: là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận.
Các tổ chức phát hành thẻ hiện nay bao gồm các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính. Đặc điểm của thẻ Theo Điều 12, Thông tư 19/2016/TT-NHNN [12], Thẻ ngân hàng bao gồm các yếu tố như: - Tên TCPHT (tên viết tắt hoặc logo thương mại của TCPHT) trên mặt trước của thẻ; - Tên tổ chức chuyển mạch thẻ mà TCPHT là thành viên (tên viết tắt hoặc logo thương mại của tổ chức chuyển mạch thẻ); - Tên hoặc nhãn hiệu thương mại của thẻ (nếu có); - Số thẻ; - Thời hạn hiệu lực (hoặc thời Điểm bắt đầu có hiệu lực) của thẻ; - Họ, tên đối với chủ thẻ là cá nhân; tên tổ chức đối với chủ thẻ là tổ chức và họ, tên của cá nhân được tổ chức ủy quyền sử dụng thẻ. Quy định này không áp dụng đối với thẻ trả trước vô danh. 6 tro<vg nước Hình 1.1: Mặt trước và mặt sau của sản phẩm thẻ nội địa hạng vàng của Agribank Trong các thông tin cơ bản trên thì thông tin để nhận diện và phân biệt chủ thẻ quan trọng nhất chính là số thẻ.
Theo quy định hiện nay ở Việt Nam, số thẻ của thẻ vật lý có 2 loại là: loại 16 chữ số và loại 19 chữ số. Tại Agribank thẻ được phát hành hiện nay là loại thẻ gồm 16 chữ số. Trong đó: - 6 chữ số đầu tiên ở mặt trước thẻ tín dụng được gọi là IIN (Issuer Identification Number) hay BIN (Bank Identification Number); + Chữ số đầu tiên là MII (Major Industry Identifier) đại diện cho nhà phát hành. Ví dụ: thẻ đầu 4 hoặc 5 biểu thị cho các ngân hàng hoặc tổ chức tài 7 chính, thẻ đầu 9 biểu thị cho Nhà nước,.
+ 4 chữ số đầu của thẻ là mã do Nhà nước ấn định, mã ấn định của thẻ nội địa ở Việt Nam thường sẽ là 9704; + 2 chữ số kế tiếp là sự mã hóa của các ngân hàng. Đối với Agribank mã này là 05. Vậy đối với thẻ nội địa, đầu thẻ của Agribank hoàn chỉnh sẽ là 970405 - 8 chữ số ở giữa đại diện cho số CIF của khách hàng - Các chữ số cuối giúp nhận diện và phân biệt tài khoản của khách hàng. Dãy số này có mục đích thông qua thuật toán Luhn kiểm tra checksum nhằm kiểm tra độ chuẩn của thẻ tín dụng.
Ngoài các thông tin quy định trên, TCPHT được quy định thêm các thông tin khác trên thẻ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam ví dụ như dẫy số bảo mật của thẻ thường gồm 3 chữ số ở mặt sau của thẻ- CSC (Card Security Code) được biết đến dưới tên CVV (Card Verification Value) đối với thẻ quốc tế thuộc thương hiệu Visa và CVC (Card Verification Code) đối với thẻ quốc tế thuộc thương hiệu MasterCard.2: Mặt sau của thẻ quốc tế Ngoài ra, mỗi ngân hàng trên thị trường đều có mã định dạng là ACQ ID (Acquirer Identification Number) đối với thị trường thẻ nội địa, mã của Agribank 8 là 90499. Mã BIN này của mỗi ngân hàng là riêng và duy nhất giúp dễ dàng phân biệt các ngân hàng khác nhau giao dịch qua mạng lưới của Napas. Phân loại thẻ Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ hay mã tổ chức phát hành thẻ (Bank Identification Number- BIN) - Thẻ nội địa: được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong nước. - Thẻ quốc tế: được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ ở cả trong nước và ở nước ngoài.
Các thương hiệu thẻ quốc tế đã được các ngân hàng tại Việt Nam phát hành là Visa, MasterCard, JCB, American Express, UP. Việc phân loại thành thẻ nội địa hay thẻ quốc tế là dựa trên phạm vi chủ thẻ có thể sử dụng thẻ, còn về mặt tính năng thì cả thẻ nội địa hay thẻ quốc tế đều có thể là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước. Tuy nhiên, hiện nay, thông qua kết nối của tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước là Công ty Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) với một số tổ chức chuyển mạch ở nước ngoài, thẻ nội địa của một số ngân hàng ở Việt Nam phát hành đã có thể sử dụng để giao dịch tại ATM và các điểm chấp nhận thẻ ở một số nước khác. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ: - Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức 9 phát hành thẻ. Thông thường, thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên cơ sở đánh giá và thẩm định uy tín tín dụng, mức lương hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hay tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại ngân hàng - Thẻ trả trước (Prepaid Card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước bao gồm: thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Điểm khác biệt cơ bản về tính năng giữa thẻ trả trước vô danh và thẻ trả trước định danh là sau lần nạp tiền lần đầu, thẻ trả trước vô danh sẽ không được nạp thêm tiền và chỉ được sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, số dư trên một thẻ trả trước vô danh không được vượt quá năm triệu đồng Việt Nam theo quy định hiện hành.Các loại thẻ trả trước hiện nay chủ yếu sử dụng để thanh toán chi phí mua xăng, dầu, dịch vụ giải trí, dịch vụ giao thông - vận tải và thanh toán trên các website thương mại điện tử.
Theo đặc tính kỹ thuật - Thẻ in nổi (Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả. - Thẻ từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với hai băng từ ở mặt sau của thẻ chứa các thông tin về thẻ và chủ thẻ. Thẻ từ hiện nay chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường.
Thè từ có nhược điểm là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều, mang tính cố định, không gian chứa dữ liệu hẹp nên không áp dụng được các kỹ thuật mới đảm bảo an toàn cho thẻ. 10 - Thẻ chip (Smart Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, trên mặt trước thẻ có gắn một con chíp điện tử có cấu trúc hoàn toàn như một máy tính. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao. Phân loại theo hình thức hiện hữu của thẻ: - Thẻ vật lý (Physical Cards): là thẻ có hình thức hiện hữu vật chất, thông thường được làm bằng chất liệu nhựa, có gắn dải từ hoặc chip điện tử để lưu giữ dữ liệu thẻ (khoản 6 Điều 3 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN).
- Thẻ phi vật lý (Virtual cards): là thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất nhưng vẫn chứa các thông tin trên thẻ quy định tại Điều 12 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN, được TCPHT phát hành cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử chấp nhận thẻ khác. Thẻ phi vật lý có thể được TCPHT in ra thẻ vật lý khi chủ thẻ có yêu cầu (khoản 7 Điều 3 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN). Chức năng, tiện ích của thẻ Với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thẻ ngày nay, ngoài những chức năng, tiện ích phổ biến của thẻ như: Rút/Ứng tiền mặt, chuyển khoản liên ngân hàng qua số tài khoản/số thẻ, thanh toán trực tuyến, vấn tin số dư tài khoản, đổi mã PIN, in sao kê,.; các TCPHT nếu muốn giữ vững và gia tăng thị phần trong thị trường thẻ, không những cần đa dạng hoá các sản phẩm thẻ mà còn không ngừng gia tăng các chức năng, tiện ích của thẻ thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của chủ thẻ. Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ Hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 05 thành phần cơ bản là: TCPHT, TCTTT, Chủ thẻ, ĐVCNT và Tổ chức chuyển mạch thẻ.
Để phát huy tối đa tính năng của thẻ ngân hàng, mỗi chủ thể đóng 11 vai trò khác nhau. - Tổ chức chuyển mạch thẻ (TCCMT): Là tổ chức trung gian cung ứng dịch vụ kết nối hệ thống xử lý giao dịch thẻ cho các TCPHT, TCTTT theo thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên liên quan. Đối với thẻ quốc tế, tổ chức chuyển mạch thẻ chính là các TCTQT r■ 1 HĩasterCa/ơ k WJ WSΛ ∣∣ifa⅛ Electron Hình 1.3: Các tổ chức thẻ quốc tế phổ biến - Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT): Là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng hoặc công ty phát hành và thanh toán thẻ quốc tế. Ví dụ: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ American Epress, công ty thẻ JCB, công ty Diners Club, công ty Mondex.
Đây là những đơn vị đầu não quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình, có mạng lưới hoạt động rộng khắp trên toàn thế giới. TCTQT đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các công ty thành viên. - Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT): Là các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện việc phát hành thẻ cho chủ thẻ sử dụng một cách hợp pháp.