CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ QUỸ QUAY VÒNG CỦA Dự ÁN TÀI CHÍNH NÔNG THÔN 1. Tổng quan về quản lý dự án ODA 1. Khái niệm quản lý dự án ODA Khái niệm về ODA: Vào năm 1969 tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đưa ra khái niệm chính thức đầu tiên của ODA tên viết tắt 3 chữ cái đầu tiếng Anh “Official Development Assistance”, cụ thể là: “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”.
Năm 1999 Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khái niệm về ODA: “ODA là một phần của Tài chính phát triển chính thức ODF (Official Development Finance) trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA. Tài chính phát triển chính thức ODF là các nguồn tài chính của các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển. ” Khái niệm ODA được đề cập trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam- 12/2002” của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP): “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức 5 thực hiện, (ii) chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi, (iii) cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%.” Tại Nghị định 131/2006/NĐ-CP quy định về cơ chế quản lý và sử dụng ODA có nêu: ii Ho trợ phát triển chính thức ODA được hiểu là hoạt động hỗ trợ phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ. Các hình thức cung cấp ODA bao gồm: (i) ODA không hoàn lại; (ii) ODA vay ưu đãi và (iii) ODA hỗn hợp trong đó thành tố hỗ trợ phải đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
Các khái niệm ODA mặc dù được đưa ra vào các thời điểm khác nhau và bởi các đối tượng khác nhau, nhưng đều có những điểm chung như sau: - Do các quốc gia phát triển hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho một nước đang hoặc kém phát triển; - Mục đích của các khoản viện trợ này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các khó khăn về tài chính hoặc nâng cao phúc lợi xã hội của nước nhận viện trợ chứ không bao gồm các mục đích thương mại mang lại lợi nhuận trực tiếp; - Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm) - Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm) - Tính ưu đãi luôn chiếm tối thiểu 25% tổng giá trị khoản vay vốn. Như vậy là, ODA là một hình thức đầu tư nước ngoài, trong đó có yếu tố “hỗ trợ” bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi 6 suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, vì mục tiêu “phát triển” thể hiện ở mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư, và thường theo con đường “chính thức” thông qua Chính phủ các nước nhận hỗ trợ. Khái niệm Dự án ODA: Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định. Sản phẩm chuyển giao do dự án tạo ra là hạng mục cuối cùng của dự án.
Dự án có thể được chia ra thành những nhiệm vụ nhỏ hơn, được phối hợp với nhau nhằm đạt được mục tiêu của dự án. Một số ví dụ về dự án như: làm đường, xây bệnh viện, cải cách sách giáo khoa,vv. Một số đặc tính của Dự án: - Tính mục tiêu: Dự án bao giờ cũng có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng; Định hướng mục tiêu luôn được duy trì trong suốt dự án và Sản phẩm cuối cùng luôn được đánh giá xem có phù hợp, có đạt được mục tiêu không - Có các hạn định rõ ràng: Lịch biểu được xác định trước; Các ngày bắt đầu, ngày kết thúc rõ; Các mốc được theo dõi và đem ra đánh giá. - Sự giới hạn: Giới hạn về nguồn lực; Giới hạn về kinh phí; Giới hạn về thời gian.
Có thể phân loại Dự án theo nhiều tiêu chí khác nhau, tuy nhiên, nếu phân theo mục tiêu dự án, Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật. Dự án đầu tư là dự án tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Dự án hỗ trợ kỹ thuật là dự án có mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực và thể chế hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị, thực hiện các 7 chương trình, dự án thông qua các hoạt động cung cấp chuyên gia, đào tạo, hỗ trợ trang thiết bị, tư liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo. Các dự án Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là dự án ODA) được hiểu là các dự án thuộc khuôn khổ hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ một nước và nhà tài trợ.
Có nhiều cách phân chia dự án ODA theo các loại hình khác nhau, nhưng nếu xét theo tính chất sử dụng vốn, dự án ODA được xác định theo các loại hình sau: - Dự án xây dựng cơ bản(XDCB) : Là dự án đầu tư liên quan đến việc xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy tu, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm dịch vụ trang thiết bị đi kèm công trình; - Dự án hành chính sự nghiệp(HCSN): Là dự án đầu tư cho các nội dung chỉ có tính chất HCSN theo quy định của Mục lục Ngân sách nhà nước; - Dự án hỗn hợp vừa xây dựngXDCB, HCSN và cho vay lại: là dự án kết hợp ít nhất 2 trong 3 nội dung chi có tính chất XDCB, HCSN, cho vay lại (gồm cả cho vay lại các dự án tín dụng hoặc hợp phần tín dụng). Khái niệm Quản lý dự án ODA: Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, tổ chức và sử dụng các nguồn lực, để có thể hoàn thành các mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra. Quản lý dự án ODA là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án ODA để có thể tổ chức và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu của dự án. Việc quản lý dự án ODA cũng chính là quản lý việc thực hiện dự án ODA, tính từ giai đoạn chuẩn bị thực hiện dự án, sau khi đã hoàn tất khâu thiết kế, thẩm định, phê duyệt và sẵn sàng cho các giai đoạn tiếp theo.
Việc quản lý này tuân theo các quy định của Chính phủ nước tiếp nhận và nhà tài trợ. Các nội dung quản lý dự án ODA Quản lý dự án ODA phải đáp ứng những yêu cầu của chủ đầu tư và nhà tài trợ, bao gồm: i)Mục tiêu của chủ đầu tư và nhà tài trợ; ii) Thời gian, chi phí,và chất lượng dự án; iii) Những yêu cầu xác định (nhu cầu) và những yêu cầu không xác định (mong muốn). Những yêu cầu này được thực hiện thông qua việc quản lý ở tầm vĩ mô và tầm vi mô với các nội dung công việc, lĩnh vực quản lý đa dạng. Quản lý dự án ODA tầm vĩ mô a.
Nội dung quản lý dự án theo các giai đoạn của Dự án Để có thể quản lý dự án ODA từng giai đoạn của dự án, chúng ta cần hiểu về chu kỳ (vòng đời) của dự án. Vòng đời dự án cung cấp khung chung cho việc thực hiện dự án, làm cho công việc dự án rõ ràng và dễ dự đoán hơn, cũng như thời điểm đưa ra các quyết định, mốc rõ ràng hơn. Hoạt động của cán bộ liên quan tới quản lý dự án luôn gắn liền với vòng đời dự án. Chu kỳ hay vòng đời của dự án ODA bao gồm các giai đoạn: - Hình thành và xác định vốn dự án: Là giai đoạn đầu tiên của dự án, xác định các ý tưởng thiết kế dự án.
Nội dung quản lý: Dựa trên các quy hoạch hoặc chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, quốc gia trong từng giai đoạn để định hướng xây dựng dự án. Công việc này được thực hiện bởi cơ quan chính quyền địa phương và trung ương. - Chuẩn bị dự án: Trên cơ sở bước 1, hàng năm các nước vay vốn tiến hành xây dựng danh mục các chương trình, dự án khả thi dự kiến sử dụng nguồn vốn ODA để tiến hành. Nội dung quản lý dự án ODA giai đoạn này là xem xét, thông qua danh mục các chương trình, dự án khả thi cả về mặt kinh tế và kỹ thuật để có thể vận động vay vốn trong năm tài khóa tiếp theo.
Công việc này được thực hiện bởi Chính phủ. 9 - Thẩm định, phê duyệt dự án: Tùy theo phạm vi, tính chất, quy mô của dự án ODA mà Chính phủ giao cho các cơ quan khác nhau để tiến hành thẩm định dự án ODA. Nội dung công tác thẩm định dự án gồm: Thẩm định về mặt kinh tế, tài chính; thẩm định về kỹ thuật, thẩm định về mặt xã hội, thẩm định về môi trường, ngoài ra còn có thể thẩm định về một vài nội dung khác tùy theo từng dự án như các ngoại lệ về chính sách, các chính sách an toàn được áp dụng.Khi kết quả thẩm định dự án là khả thi và phù hợp với kết quả thẩm định của bên tài trợ thì dự án có thể được phê duyệt.