CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ CỦA NGÀNH THUẾ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ THUẾ 1. Các khái niệm về nợ thuế Trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp từ Tổng cục Thuế, Cục Thuế tới các Chi cục Thuế thì công tác quản lý nợ và cuỡng chế nợ thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng, gồm: tuyên truyền - hỗ trợ nguời nộp thuế; kê khai - kế toán thuế; quản lý nợ và cuỡng chế nợ thuế và thanh tra - kiểm tra thuế. Đặt nền móng cho những cơ sở lý thuyết về quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng đuợc thể hiện trong các sách giáo trình nhu: Giáo trình Quản lý thuế, Học viện Tài chính, Nhà xuất bản Tài chính, năm 2010; Giáo trình Quản lý thuế, truờng Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản kinh tế TP Hồ Chí Minh, năm 2012.
Quản lý nợ là khâu quản lý tiếp theo của chức năng kê khai - kế toán thuế và là hoạt động của cơ quan thuế nhằm đôn đốc số thuế đã kê khai, số thuế đã phát hiện sau thanh tra, kiểm tra. của NNT nhung chua nộp vào NSNN. Tại Quyết định số 1401/QĐ-TCT của Tổng cục truởng Tổng cục Thuế ngày 28/7/2015 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế có định nghĩa tiền thuế nợ nhu sau: “Tiền thuế nợ là: các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN”. Ví dụ nhu, theo Luật Quản lý thuế ban hành và có hiệu lực thi hành từ 8 01/7/2020 thì thời hạn nộp đối với thuế Giá trị gia tăng là ngày 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế; thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quí là ngày 30 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế.
sau thời hạn nộp này, nếu người nộp thuế chưa nộp thuế vào ngân sách nhà nước thì được coi là nợ thuế. “Tiền thuế đang chờ điều chỉnh là: các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật mà NNT đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền; chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc; chờ ghi thu - ghi chi; tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng mà cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định; tiền thuế không tính tiền chậm nộp ”. Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định. Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt đầu phát sinh tiền thuế nợ.
Chẳng hạn như tại một thời điểm, một người nộp thuế nợ 3 tỷ đồng tiền thuế thì cơ quan thuế có trách nhiệm xem xét số thuế nợ đó là nợ của những lần phát sinh nào, loại thuế nào? Chẳng hạn như nợ 3 khoản thuế GTGT, nợ 2 khoản thuế TNDN. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp thu nợ hiệu quả. Tiền chậm nộp thuế là khoản tiền chậm nộp được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ. Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật.
Khoá sổ thuế là thời điểm ngừng nhập các chứng từ kế toán liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT như tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, các quyết 9 định, thông báo. Sau khi khoá sổ thuế, mọi số liệu trên sổ theo dõi thu nộp thuế các tháng truớc sẽ không đuợc điều chỉnh, bổ sung ngay, mà chỉ đuợc điều chỉnh, bổ sung sau ngày khoá sổ và sẽ đuợc hạch toán vào thời điểm phát hiện để điều chỉnh, bổ sung vào kỳ thuế tiếp theo. Đặc điểm và phân loại nợ thuế 1.1 Đặc điểm của nợ thuế a. Nợ thuế là hành vi chiếm dụng vốn của Ngân sách nhà nước Nợ thuế là một phạm trù tất yếu khách quan, khi còn thuế thì vẫn còn nợ thuế.
Xét ở góc độ hành vi thì nợ thuế là hành vi của nguời nộp thuế không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế. Nhìn từ góc độ thị truờng, có quan điểm cho rằng việc doanh nghiệp cố tình nợ đọng thuế với mục đích chiếm dụng vốn trong một thời gian nhất định. Bởi trong bối cảnh liên tục “đói vốn”, việc có sẵn hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng để chi dùng trong vòng 2-3 tháng mà không phải thế chấp, không phải đảm bảo các thủ tục vay tiền là một lợi thế mà doanh nghiệp nào cũng muốn duy trì. Đây chính là hiện tuợng NNT chiếm dụng vốn của NSNN thông qua hành vi n ợ thuế để sử dụng cho các mục đích khác, làm thất thu ngân sách nhà nuớc đặc biệt là trong tình trạng nền kinh tế khó khăn.
Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà NNT có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nuớc. Việc nộp thuế sẽ ảnh huởng đến lợi ích kinh tế của NNT. Vì thế tâm lý trốn thuế, tránh thuế là tâm lý phổ biến của NNT. Việc họ trốn tránh nộp thuế sẽ giúp lợi ích họ có đuợc nhiều hơn và điều này dẫn đến hành vi nộp thuế chậm hoặc trốn nộp thuế ngày càng gia tăng.
Đặc biệt ở Việt Nam khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, nguời 10 dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của thuế, chưa lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, họ tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Vì thế, để hạn chế nợ thuế, bên cạnh những biện pháp có tính chất pháp luật để cưỡng chế NNT tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền, phổ biến để NNT tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng. Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Những hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế bao gồm những hành vi được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về thuế gồm: vi phạm các thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế.
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của đối tượng nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo qui định của pháp luật thuế. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế: là hành vi cố ý vi phạm luật thuế của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước. Còn nợ thuế thì chưa chắc đã là hành vi cố ý, vì nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Về chủ quan, do NNT cố tình nợ một số thuế lớn, sau đó bỏ trốn, mất tích không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế dẫn đến NSNN phát sinh một khoản nợ thuế khó thu được.
Như vậy, trong trường hợp này, nợ thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật. Về khách quan, có thể do nguyên nhân có tai nạn bất ngờ như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh.dẫn đến đối tượng nộp thuế gặp khó khăn tức thì, tạm thời 11 không có khả năng để thanh toán nghĩa vụ cho NSNN. Phân loại nợ thuế Phân loại nợ thuế là việc sắp xếp nợ thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Việc phân loại nợ thuế giúp cơ quan thuế xác định đuợc nguyên nhân nợ, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu nợ thuế có hiệu quả.
Phân loại nợ thuế sẽ giúp cơ quan thuế đua ra các biện pháp quản lý, đôn đốc thu nợ; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác tổng hợp số liệu báo cáo, khắc phục đuợc sự không rõ ràng, không thống nhất trong công tác quản lý nợ. Căn cứ vào sắc thuế nợ Nợ thuế đuợc phân chia theo sắc thuế nhu sau: nợ thuế Giá trị gia tăng, nợ thuế Thu nhập doanh nghiệp, nợ thuế Tiêu thụ đặc biệt, nợ thuế Thu nhập cá nhân. Căn cứ vào khả năng nộp nợ - Nhóm tiền thuế nợ khó thu: Nhóm nợ khó thu bao gồm các truờng hợp sau: + Tiền thuế nợ của NNT đuợc pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chua có hồ sơ đề nghị xoá nợ. + Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của NNT đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, chua thực hiện đuợc nghĩa vụ nộp thuế.
+ Tiền thuế nợ của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh: là số tiền thuế nợ của NNT mà cơ quan thuế đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt động kinh doanh và đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế. 12 + Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể: là số tiền thuế nợ của NNT đã thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhung chưa thanh toán đầy đủ các khoản nợ thuế theo quy định của pháp luật. + Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán: là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật.