CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Tổng quan quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệm liên quan đến xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới * Khái niệm nông thôn Nông thôn là một khái niệm thông dụng và có nhiều cách hiểu khác nhau theo từng quan điểm và các tiêu chí khác nhau mà chủ thể muốn nghiên cứu. Theo giao trình Quy hoạch phát triển nông thôn tác giả định nghĩa “Nông thôn là khu vực sinh sống, làm việc của các đối tượng chủ yếu là nông dân, là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp (PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, 2004).
Nghị định 57/2018 NĐ-CP ngày 17/04/2018 có nêu “Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường, thị xã, quận và thành phố”. Tại thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ban hành ngày 21/08/2009 thì nông thôn được khái niệm là “phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”. Khái niệm nông thôn mới Có nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về nông thôn mới. Nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để giải quyết vấn đề tam nông tạo ra một xã hội nông thôn ổn định và phát triển về kinh tế - chính trị - xã hội (Phạm Đi, 2016).
Trong nghị quyết 26-NQ/TW bàn về vấn đề tam nông chỉ rõ “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân 11 tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Khái niệm QLNN Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nước thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm tác động lên các đối tượng quản lý để thực thi quyền lực Nhà nước. Hay QLNN là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ. Đồng thời, các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.
Vậy, quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Hoặc QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện thông qua hệ thống công cụ luật pháp và chinh sách để điều chỉnh các hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm duy trì sự ổn định và phát triển ổn định xã hội (Nguyễn Hữu Hải, 2012). QLNN đối với nông thôn: QLNN về nông thông là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước thông qua bộ máy quản lý tác động lên các quá trình, các hoạt động kinh tế - xã hội nông thôn nhằm đạt được các mục tieu phát triển kinh tế xã hội nông thôn đề ra (Phạm Kim Giao, 2009). Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới được hiểu là tập hơp các hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước tác động tới các vấn đề về tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) nhằm tạo ra một xã hội nông thôn có kinh tế phát triển hơn, cuộc sống của người dân vùng nông thôn ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn.
Hay nói cách khác QLNN về xây dựng NTM là việc Nhà nước sử dụng các công cụ luật pháp tác động đến quá trình triển khai và tổ chức thực hiện các tiêu chí xây 12 dựng nông thôn mới nhằm mang lại đời sống hạnh phúc, ấm no cho người dân ở khu vực nông thôn. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM Nghị quyết 26-NQ/TW khẳng định tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) ở nước ta có vị trí và vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Vì vậy, những vấn đề về tam nông cần được xem xét và giải quyết một cách đồng bộ gắn với công cuộc CNH-HĐH. Đảng và Nhà nước ta khẳng định phát triển tam nông ở nước ta phải theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đồng thời phải xem xét triển khai và áp dụng cho phù hợp với điều kinh kinh tế xã hội của từng vùng theo từng thời kỳ cụ thể, giữ gìn và phát huy nền văn hóa của người dân vùn nông thôn Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định để xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có sự đồng lòng của toàn xã hội. Các cấp ban ngành từ trung ương tới địa phương và toàn dân phải nhất trí hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một xã hội nông thôn có chất lượng cuộc sống được nâng cao, một xã hội hòa bình, kinh tế xã hội phát triển, đời sống văn hóa tinh thần người dân nông thôn được nâng cao, không còn hộ nghèo đói, anh sinh xã hội ngày càng cải thiện, môi trường sống xanh sạch đẹp, an toàn thực phẩm được kiểm soát và có một hệ thống chính trị vững vàng và không ngừng lớn mạnh để phục vụ nhân dân.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về lý luận và thực tiễn, Nhà nước có vai trò không thể thiếu đối với công tác xây dựng nông thôn mới bởi những lý do sau: Một là, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lớn, phức tạp và mang tính lâu dài, đây là chủ trương chiến lược trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lượng bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, giữ gìn an ninh, trật tự, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái ở nông thôn; công cuộc xây dựng nông thôn mới liên quan đến nhiều bộ ngành và các địa phương, đòi hỏi phải có sự tham gia 13 của cả hệ thống chính trị và người dân, do vậy nhà nước giữ vai trò điều phối, phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện nhằm đạt hiệu quả các mục tiêu đề ra. Hai là, định hướng trong đầu tư công, thực hiện các chính sách đảm bảo về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao mọi mặt đời sống xã hội của người dân vùng nông thôn thông qua thực lực kinh tế nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động các thành phần kinh tế khác cùng tham gia.
Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản quốc gia sẽ có chức năng quản lý, phân bổ nguồn lực của đất nước, cung cấp những dịch vụ hàng hóa công mà thị trường tự do không đảm trách được, thông qua đó xóa bỏ chênh lệch giữa khu vực thành thị với nông thôn, kiểm soát và khai thác hiệu quả tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế khu vực nông thôn. Ba là, xuất phát từ thực tế quản lý nhà nước về xây dựng NTM và những hạn chế trong xây dựng nông thôn mới thực tế tại các địa phương hiện nay. Nhà nước can thiệp để kiểm soát xã hội nông thôn thông qua hoạch định ban hành những cơ chế, chính sách, tạo hành lang khung pháp lý nhằm tối đa hóa phúc lợi của xã hội và hướng đến việc kích thích tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn, đồng thời với chuyển đổi nền tảng sản xuất của xã hội nông thôn, chăm lo thực hiện các chính sách về văn hoá, giáo dục, môi trường, y tế cho người dân vùng nông thôn 1. Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1.1 Hoạch định chiến lược, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Định hướng chiến lược, quy hoạch, thực hiện quy hoạch tạo cơ sở cho các tổ chức, nhân dân thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các tiêu chí trong 19 tiêu chí được ban hành về xây dựng nông thôn mới, nhằm đảm bảo tối đa lợi ích cho toàn xã hội.
Trong xây dựng NTM, hoạch định chiến lược chính là việc định ra những mục tiêu, nội dung, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho chương trình xây dựng NTM. Công tác quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng mang tính tiền đề và cấp thiết để xây dựng nông thôn mới thành công. Quy hoạch là 14 tiêu chí tiên quyết giúp phát triển các địa phương một cách toàn diện. Tiêu chí quy hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến các tiêu chí khác trong xây dựng nông thôn mới và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong tương lai lâu dài.
Chính vì vậy, công tác lập quy hoạch phải có tầm nhìn đủ rộng, đủ lớn thì mới có thể tạo ra một bản quy hoạch tốt cho địa phương. Nhận biết được khó khăn trong công tác lập quy hoạch các Bộ ngành liên quan đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về việc lập quy hoạch và quản lý quy hoạch, quy định các quy chuẩn, tiêu chuẩn hướng dẫn phục vụ công tác lập kế hoạch trong xây dựng NTM như thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010; Thông tư số 31/2009/TT-BXD về tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn (cho các vùng miền) và thông tư số 32/2009/TT/BXD về quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia quy hoạch xây dựng NTM. Các nội dung của công tác quy hoạch chủ yếu liên quan đến các lĩnh vực quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch sản xuất. Do có nhiều nội dung phức tạp nên trong quá trình triển khai thực hiện tại các địa phương cho thấy cần phải hợp nhất cả 3 nội dung quy hoạch trên thành một.