Tổng quan nghiên cứu

Kể từ phong trào Đông Du năm 1905 do chí sĩ Phan Bội Châu khởi xướng với 3 du học sinh đầu tiên, quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản đã trải qua hơn một thế kỷ phát triển vượt bậc. Đến năm 2012, số lượng du học sinh Việt Nam sinh sống và học tập tại Nhật Bản đã đạt 6.290 người, đứng đầu trong khối các quốc gia ASEAN và xếp thứ 3 trên toàn thế giới. Đến năm 2013, con số này tiếp tục gia tăng nhanh chóng, vượt mức 8.000 du học sinh. Trên bình diện toàn cầu, năm 2012 ghi nhận hơn 100.000 công dân Việt Nam học tập tại nước ngoài, trong đó du học tự túc chiếm tỷ lệ áp đảo hơn 90%, đặt ra bài toán phức tạp cho các cơ quan chức năng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự bất cập trong công tác quản lý nhà nước khi số lượng du học sinh tự túc tăng trưởng nóng nhưng cơ chế quản lý truyền thống chủ yếu chỉ bao quát nhóm du học sinh diện học bổng nhà nước. Tình trạng du học sinh cư trú bất hợp pháp, vi phạm quy định làm thêm 28 giờ mỗi tuần, bỏ học đi làm ngoài tầm kiểm soát và hiện tượng chảy máu chất xám đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh quốc gia. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, xác định các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nguồn nhân lực đào tạo quốc tế.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hoạt động quản lý của các bộ, ngành chức năng như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ cùng các cơ quan đại diện tại Nhật Bản trong giai đoạn 2004–2014, mốc thời gian từ khi ban hành Chỉ thị 35/2004/CT-TTg đến khi triển khai Quyết định 05/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý công dân học tập ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu kiểm soát trên 90% dữ liệu du học sinh tự túc và bảo toàn nguồn chất xám phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin về chức năng quản lý xã hội sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, khẳng định mọi hoạt động phối hợp quy mô lớn đều đòi hỏi sự điều hòa và chỉ huy thống nhất của chủ thể quản lý. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản lý nhà nước về nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xem việc đào tạo công dân ở nước ngoài là bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nhân lực quốc gia.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác đa chiều giữa ba thành tố: Chủ thể quản lý (Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản), Khách thể quản lý (du học sinh học bổng ngân sách, học bổng hiệp định và du học sinh tự túc) và Công cụ quản lý (hệ thống pháp luật, cơ sở dữ liệu điện tử, chế độ báo cáo, công tác lãnh sự và các tổ chức hội đoàn sinh viên). Luận văn làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: Quản lý nhà nước, Du học sinh, Du học sinh diện học bổng, Du học sinh tự phí và Hoạt động dịch vụ tư vấn du học. Trong đó, quản lý du học sinh được định vị là hoạt động bảo hộ quyền lợi công dân, định hướng tư tưởng, hỗ trợ hành chính và tạo động lực cống hiến tri thức cho đất nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ Cục Đào tạo với nước ngoài, Tổ chức Hỗ trợ Sinh viên Nhật Bản (JASSO), Đại sứ quán Việt Nam tại Tokyo và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2004–2014. Dữ liệu sơ cấp được kế thừa và phân tích từ khảo sát quy mô gần 2.000 phiếu điều tra ý kiến lưu học sinh tại 47 quốc gia cùng 21 bài tham luận chuyên sâu của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài trong khuôn khổ Hội nghị Quản lý lưu học sinh toàn cầu.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế gồm gần 2.000 du học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, phân loại theo diện đi học (học bổng nhà nước, học bổng đối tác, tự túc) và bậc đào tạo từ tiếng Nhật, cao đẳng, đại học đến sau đại học. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phương pháp chuyên gia vì cách tiếp cận này cho phép đánh giá chính xác cả khía cạnh tuân thủ hành chính lẫn các yếu tố tâm lý xã hội của du học sinh, khắc phục sự thiếu hụt số liệu thống kê cứng đối với nhóm du học tự túc. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện xuyên suốt timeline từ năm 2004 đến cuối năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác quản lý đối với du học sinh diện học bổng ngân sách và hiệp định đạt hiệu quả rất cao. Thống kê theo dõi các đề án đào tạo như Đề án 322 cho thấy 95% du học sinh hoàn thành chương trình đúng hạn và trở về nước công tác tại các cơ quan ban đầu; khoảng 2% được cấp học bổng chuyển tiếp lên bậc học cao hơn hoặc thực tập nâng cao; chỉ có khoảng 3% (tương đương 100 du học sinh, chủ yếu là nghiên cứu sinh tiến sĩ) về nước chậm do gia hạn thời gian nghiên cứu.

Thứ hai, tồn tại khoảng trống quản lý nghiêm trọng đối với du học sinh diện tự túc, nhóm chiếm hơn 90% trong tổng số hơn 100.000 du học sinh Việt Nam trên thế giới và hơn 6.290 du học sinh tại Nhật Bản năm 2012. Đại đa số du học sinh tự túc không thực hiện thủ tục đăng ký công dân tại Cơ quan đại diện ngoại giao, dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý hoàn toàn thiếu thông tin về chuyên ngành, nơi ở và tình trạng học tập.

Thứ ba, hệ thống quản lý các tổ chức dịch vụ tư vấn du học bộc lộ nhiều kẽ hở trước năm 2013. Trước khi Quyết định 05/2013/QĐ-TTg và Thông tư 23/2013/TT-BGDĐT có hiệu lực, các Sở Giáo dục và Đào tạo thiếu công cụ pháp lý để thanh tra, kiểm tra hoạt động tư vấn, dẫn đến việc nhiều công ty quảng bá sai sự thật về vừa học vừa làm, gây ra các vụ việc vi phạm pháp luật nước sở tại.

Thứ tư, vấn đề vi phạm quy chế cư trú và lao động của du học sinh tại Nhật Bản có chiều hướng gia tăng. Nhiều du học sinh tự túc không duy trì tỷ lệ chuyên cần trên lớp, vượt quá giới hạn 28 giờ làm thêm mỗi tuần theo quy định của Luật Kiểm soát Xuất nhập cảnh và Công nhận Tị nạn Nhật Bản, thậm chí trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp khi visa hết hạn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng chính quyền địa phương. Cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành chưa được thiết lập tự động; các biện pháp chế tài đối với du học sinh tự túc không đăng ký thông tin còn thiếu tính ràng buộc thực tế.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia phát triển áp dụng cơ chế khai báo trực tuyến liên thông giữa Bộ Giáo dục, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và cơ quan đại diện ở nước ngoài với đường dây nóng hỗ trợ công dân 24/7. Tại Nhật Bản, các cơ sở giáo dục định kỳ tháng 4 hàng năm phải cập nhật chi tiết tình trạng cư trú và học tập của lưu học sinh cho Cục Quản lý Xuất nhập cảnh sở tại.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu về thực trạng du học sinh được thể hiện hiệu quả qua biểu đồ phân bố cơ cấu du học sinh (so sánh tỷ lệ 90% tự túc và 10% học bổng) và biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng lưu học sinh tại Nhật Bản giai đoạn 2004–2014. Quy trình xử lý hồ sơ cử đi học bằng ngân sách nhà nước và các bước đăng ký thông tin trực tuyến cũng được mô hình hóa chi tiết bằng sơ đồ luồng công việc, làm rõ từng mắt xích kiểm soát từ cơ sở đào tạo đến Đại sứ quán.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và bắt buộc vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quản lý du học sinh trực tuyến do Cục Đào tạo với nước ngoài chủ trì. Đặt mục tiêu đạt tỷ lệ đăng ký thông tin trên 85% du học sinh tự túc trong giai đoạn 2015–2017 thông qua việc gắn nghĩa vụ khai báo trực tuyến với điều kiện tiên quyết để Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, công nhận văn bằng sau khi về nước.

Thứ hai, siết chặt quản lý và chuẩn hóa hoạt động của mạng lưới công ty tư vấn du học trên cả nước. Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư triển khai kiểm tra 100% doanh nghiệp tư vấn, thực hiện nghiêm quy định ký quỹ tối thiểu 500 triệu đồng tại ngân hàng thương mại và bắt buộc 100% nhân sự tư vấn phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ theo Thông tư 23/2013/TT-BGDĐT trong vòng 60 ngày kể từ khi cấp phép.

Thứ ba, tăng cường phối hợp liên ngành giữa Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, Bộ Ngoại giao và các tổ chức cộng đồng như Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản (VYSA), Câu lạc bộ cựu du học sinh (JAV). Thiết lập kênh trao đổi thông tin định kỳ hàng quý với Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Nhật Bản nhằm giám sát chặt chẽ việc tuân thủ hạn mức làm thêm 28 giờ/tuần, đồng thời duy trì đường dây nóng bảo hộ công dân trong các tình huống thiên tai, rủi ro khẩn cấp.

Thứ tư, xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng hợp lý nguồn tri thức chất lượng cao sau tốt nghiệp. Bộ Nội vụ phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng cổng thông tin việc làm kết nối du học sinh với các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và doanh nghiệp liên doanh Việt - Nhật, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nhân lực trình độ cao hồi hương đóng góp cho đất nước lên trên 30% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự, các Sở Giáo dục và Đào tạo) – Sử dụng làm tài liệu tham khảo để sửa đổi quy chế quản lý công dân học tập ở nước ngoài, thiết kế cổng thông tin quản trị và hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ du học.

Nhóm 2: Doanh nghiệp và tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn du học Nhật Bản – Vận dụng để chuẩn hóa quy trình tư vấn, tuân thủ đúng các tiêu chuẩn pháp lý về chứng chỉ hành nghề, ký quỹ tài chính và nâng cao trách nhiệm định hướng cho người học trước khi xuất cảnh.

Nhóm 3: Các tổ chức hội đoàn thanh niên, sinh viên và cựu du học sinh (VYSA, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, JAV) – Tham khảo mô hình kết nối mạng lưới cộng đồng, xây dựng chương trình tập huấn hòa nhập văn hóa và hỗ trợ pháp lý cho tân du học sinh tại các vùng của Nhật Bản.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Quan hệ quốc tế – Sử dụng làm nguồn tài liệu thứ cấp chuẩn xác, tham khảo phương pháp luận phân tích chính sách công và phát triển các hướng nghiên cứu mở rộng về dịch chuyển lao động quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Công tác quản lý du học sinh tự túc tại Nhật Bản gặp khó khăn vì những lý do gì? Du học sinh tự túc chiếm hơn 90% tổng số người học nhưng đi qua nhiều kênh cá nhân, đa số không chủ động đăng ký công dân tại Đại sứ quán vì tâm lý tự túc tài chính. Cơ quan quản lý trong nước thiếu kết nối trực tiếp với các trường Nhật ngữ, dẫn đến không thể nắm bắt thông tin cư trú và kết quả học tập.

Quyết định số 05/2013/QĐ-TTg tạo ra bước đột phá nào trong quản lý dịch vụ tư vấn du học? Quyết định 05/2013/QĐ-TTg quy định tổ chức tư vấn du học phải ký quỹ tối thiểu 500 triệu đồng tại ngân hàng thương mại, người đứng đầu và nhân viên tư vấn bắt buộc có trình độ đại học, thông thạo ngoại ngữ và có chứng chỉ nghiệp vụ do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp, chấm dứt tình trạng hoạt động tự phát.

Quy định làm thêm tại Nhật Bản ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng pháp lý của du học sinh? Pháp luật Nhật Bản giới hạn thời gian làm thêm của du học sinh tối đa 28 giờ mỗi tuần. Việc làm việc quá giờ quy định bị coi là vi phạm Luật Kiểm soát Xuất nhập cảnh, dẫn đến nguy cơ bị từ chối gia hạn visa, buộc thôi học hoặc trục xuất về nước, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người học.

Tổ chức VYSA đóng vai trò gì trong cấu trúc quản lý nhà nước về du học sinh? Hội Thanh niên và Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản (VYSA) là tổ chức đại diện chính thức được Nhà nước công nhận, đóng vai trò cầu nối thông tin giữa Đại sứ quán và sinh viên, hỗ trợ xử lý khủng hoảng thiên tai như vụ động đất năm 2011 và tổ chức các diễn đàn hướng nghiệp, tập huấn pháp luật.

Làm thế nào để gắn nghĩa vụ đăng ký du học sinh với quyền lợi công nhận văn bằng? Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng cơ sở dữ liệu điện tử làm căn cứ thẩm định văn bằng. Du học sinh sau khi tốt nghiệp tại nước ngoài muốn được công nhận văn bằng tương đương tại Việt Nam bắt buộc phải có mã định danh và thông tin đã cập nhật đầy đủ trên hệ thống quản lý trực tuyến.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện quá trình chuyển dịch từ quản lý du học sinh theo hình thức học bổng truyền thống sang quản trị đa chiều bao quát hơn 90% du học sinh diện tự túc tại Nhật Bản.
  • Công trình chứng minh tính tất yếu của việc quản lý lưu học sinh như một bộ phận trọng yếu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các nút thắt thực tiễn trong công tác quản lý doanh nghiệp tư vấn du học, sự phối hợp liên ngành và vấn đề tuân thủ pháp luật lao động sở tại của sinh viên.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất lộ trình hoàn thiện cơ sở dữ liệu điện tử, nâng chuẩn điều kiện ký quỹ 500 triệu đồng và thiết lập chính sách trọng dụng chất xám giai đoạn 2015–2020.
  • Đây là công trình nghiên cứu quản lý kinh tế mang tính ứng dụng cao, cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản lý, doanh nghiệp giáo dục và du học sinh cùng phối hợp xây dựng môi trường học thuật quốc tế an toàn, minh bạch và hiệu quả.