Luận văn thạc sĩ: Thực trạng quản lý và sử dụng đất tôn giáo tại Quảng Bình

Luận văn phân tích thực trạng quản lý, sử dụng đất của cơ sở tôn giáo tại Quảng Bình. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý đất tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình

Quản lý đất tôn giáo là một lĩnh vực nhạy cảm, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách pháp luật và thực tiễn tại địa phương. Tại tỉnh Quảng Bình, công tác quản lý nhà nước về đất đai đối với các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng luôn được chú trọng. Tỉnh hiện có hai tôn giáo chính hoạt động là Phật giáo và Công giáo, với khoảng 201.400 tín đồ, chiếm 15,72% dân số (số liệu 2017). Việc đảm bảo quyền sử dụng đất tôn giáo hợp pháp không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hoài (2017) đã chỉ ra rằng, từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, công tác này tại Quảng Bình đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là trong việc cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến nguồn gốc sử dụng đất, tranh chấp và quy hoạch vẫn còn tồn tại. Bài viết này sẽ phân tích sâu thực trạng và đề xuất các giải pháp tối ưu dựa trên cơ sở pháp lý và dữ liệu nghiên cứu thực tiễn.

1.1. Cơ sở pháp lý và chính sách đất đai tôn giáo hiện hành

Hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Đất đai 2024 (kế thừa và phát triển từ Luật Đất đai 2013), đã quy định rõ ràng về chế độ sử dụng đất của các tổ chức tôn giáo. Theo Điều 159 Luật Đất đai 2013, đất cơ sở tôn giáo bao gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, tu viện... được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài. Chính sách đất đai tôn giáo này nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động có cơ sở vật chất ổn định. Các văn bản dưới luật như Nghị định 43/2014/NĐ-CP cũng hướng dẫn chi tiết về điều kiện và thủ tục cấp Giấy chứng nhận, giải quyết các trường hợp đất có nguồn gốc phức tạp.

1.2. Đặc điểm các tổ chức tôn giáo chính tại Quảng Bình

Tỉnh Quảng Bình là địa bàn hoạt động của hai tổ chức tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo. Theo thống kê, các cơ sở thờ tự của hai tôn giáo này phân bố rộng khắp các huyện, thị xã, thành phố như Đồng Hới, Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Ninh. Hoạt động của các tôn giáo nhìn chung tuân thủ pháp luật, góp phần vào đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Đa số đất cơ sở tôn giáo được sử dụng ổn định, không có tranh chấp lớn. Tuy nhiên, sự khác biệt về lịch sử hình thành và quá trình sử dụng đất giữa các cơ sở Phật giáo và Công giáo cũng tạo ra những đặc thù riêng trong công tác quản lý và cấp giấy chứng nhận.

II. Thực trạng thách thức trong quản lý đất tôn giáo Quảng Bình

Mặc dù công tác quản lý đất tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình được đánh giá là khá tốt, không để xảy ra các điểm nóng phức tạp (Nguồn: Luận văn Nguyễn Thị Hoài, 2017), nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề này chủ yếu xuất phát từ yếu tố lịch sử để lại, sự thiếu đồng bộ trong hồ sơ pháp lý và những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật. Một số cơ sở tôn giáo sử dụng đất không đúng mục đích, tự ý cơi nới, xây dựng trái phép hoặc có tình trạng lấn chiếm, cho mượn, cho thuê không đúng quy định. Việc giải quyết dứt điểm các tồn tại này là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả quản lý, tránh phát sinh các tranh chấp đất đai tôn giáo trong tương lai. Đây là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình mà còn cần sự phối hợp của các cấp chính quyền và bản thân các tổ chức tôn giáo.

2.1. Vướng mắc từ nguồn gốc sử dụng đất và hồ sơ pháp lý

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc xác định nguồn gốc sử dụng đất. Nhiều thửa đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng có từ rất lâu đời, qua nhiều giai đoạn lịch sử, hồ sơ, giấy tờ gốc đã bị thất lạc. Việc quản lý cơ sở thờ tự thay đổi qua nhiều thế hệ cũng khiến việc xác định ranh giới, mốc giới trở nên khó khăn. Nhiều trường hợp đất do tín đồ hiến, tặng nhưng không có giấy tờ hợp pháp, dẫn đến khó khăn khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Những vướng mắc này đòi hỏi quá trình xác minh, thẩm định kỹ lưỡng từ vai trò của chính quyền địa phương cấp xã, phường.

2.2. Các tranh chấp và vấn đề thu hồi đất tôn giáo

Tuy không có các vụ tranh chấp đất đai tôn giáo lớn, nhưng các mâu thuẫn nhỏ lẻ vẫn tồn tại, chủ yếu liên quan đến ranh giới với các hộ dân liền kề, hoặc tình trạng đất tôn giáo bị lấn chiếm. Bên cạnh đó, việc xử lý các trường hợp cơ sở tôn giáo sử dụng đất sai mục đích, cho thuê, cho mượn hoặc tự ý xây dựng công trình không phép cũng là một thách thức. Quy trình thu hồi đất tôn giáo sử dụng không đúng quy định hoặc vượt hạn mức giao đất tôn giáo rất phức tạp và nhạy cảm, đòi hỏi phải thực hiện đúng pháp luật, đồng thời làm tốt công tác vận động, giải thích để tạo sự đồng thuận.

2.3. Khó khăn trong việc cấp sổ đỏ cho đất nhà thờ chùa

Quá trình cấp sổ đỏ cho đất nhà thờ, chùa và các cơ sở tôn giáo khác đôi khi bị chậm trễ do nhiều nguyên nhân. Một số tổ chức tôn giáo chưa chủ động kê khai, lập hồ sơ. Một số khác lại vướng mắc do chưa thống nhất được tên chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận (ghi tên tổ chức hay người đại diện). Ngoài ra, các thửa đất không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận do có tranh chấp, lấn chiếm, hoặc là đất nhận chuyển nhượng, tặng cho sau ngày 01/7/2004 theo quy định của pháp luật. Việc này ảnh hưởng đến việc xác lập quyền sử dụng đất tôn giáo một cách đầy đủ và hợp pháp.

III. Phương pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôn giáo

Để giải quyết các tồn đọng và đẩy nhanh tiến độ công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, tỉnh Quảng Bình đã triển khai quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo một cách bài bản. Quy trình này tuân thủ chặt chẽ các quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo tính công khai, minh bạch. Theo nghiên cứu, quy trình này đã được rút ngắn thời gian so với quy định chung, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo. Trọng tâm của phương pháp này là việc rà soát, kiểm tra thực địa kỹ lưỡng, xác định rõ ranh giới và nguồn gốc đất, đồng thời giải quyết dứt điểm các vướng mắc trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc áp dụng linh hoạt các quy định pháp luật, đặc biệt là các điều khoản trong Luật Đất đai 2024, sẽ là chìa khóa để hoàn thành mục tiêu này.

3.1. Hướng dẫn kê khai và rà soát hiện trạng đất cơ sở tôn giáo

Bước đầu tiên và quan trọng nhất là yêu cầu các đất cơ sở tôn giáo tự rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất. Nội dung kê khai bao gồm tổng diện tích, nguồn gốc đất (được giao, nhận tặng cho, tự tạo lập...), diện tích cho mượn, cho thuê và diện tích bị lấn chiếm. Trên cơ sở báo cáo này, UBND cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình, phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể của từng thửa đất. Quá trình này giúp làm rõ hiện trạng, là cơ sở để xử lý các vấn đề pháp lý tiếp theo.

3.2. Thẩm quyền và thủ tục giao đất cho tổ chức tôn giáo

Theo quy định tại Điều 59 Luật Đất đai 2013, UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất cho cơ sở tôn giáo. Thủ tục được tiến hành sau khi đã hoàn tất việc rà soát và xử lý các vướng mắc. Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận sẽ được nộp tại cơ quan hành chính. Sau khi thẩm định, UBND tỉnh sẽ ra quyết định công nhận quyền sử dụng đất. Đối với đất tín ngưỡng như đình, đền, miếu, am do cộng đồng dân cư quản lý, thẩm quyền giao đất thuộc về UBND cấp huyện. Việc phân định rõ thẩm quyền giúp quy trình được thực hiện nhanh chóng và đúng pháp luật.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất tôn giáo tại Quảng Bình

Để công tác quản lý đất tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình ngày càng hiệu quả, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật mà còn chú trọng đến việc nâng cao năng lực thực thi của các cơ quan quản lý và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan. Trọng tâm là phải xây dựng được một hệ thống quản lý đất đai minh bạch, hiện đại, giải quyết dứt điểm các tồn tại lịch sử và ngăn ngừa các vi phạm mới phát sinh. Vai trò của chính quyền địa phương là cực kỳ quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giám sát việc sử dụng đất của các cơ sở tôn giáo trên địa bàn, đảm bảo đất đai được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và ổn định lâu dài.

4.1. Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất tôn giáo tín ngưỡng

Một giải pháp nền tảng là cần tích hợp đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của các tôn giáo vào quy hoạch sử dụng đất chung của tỉnh và các địa phương. Việc quy hoạch phải dựa trên cơ sở rà soát thực trạng, dự báo nhu cầu phát triển của các tôn giáo trong tương lai, đảm bảo quỹ đất cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp. Việc xác định rõ vị trí, diện tích, hạn mức giao đất tôn giáo trong quy hoạch sẽ giúp công tác quản lý, giao đất, cho phép xây dựng được chủ động, minh bạch, tránh tình trạng phát triển tự phát, phá vỡ quy hoạch chung.

4.2. Tăng cường thanh tra giám sát việc sử dụng đất

Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình và các phòng tài nguyên môi trường cấp huyện cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất. Hoạt động này nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm như sử dụng đất sai mục đích, xây dựng trái phép, chuyển nhượng, cho thuê đất tôn giáo trái quy định. Việc xử lý nghiêm minh các vi phạm sẽ có tác dụng răn đe, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức tôn giáo và cá nhân liên quan, đảm bảo quản lý nhà nước về đất đai được thực thi hiệu quả.

4.3. Đẩy mạnh tuyên truyền và đối thoại với các tổ chức tôn giáo

Tăng cường đối thoại, phổ biến chính sách đất đai tôn giáo là giải pháp quan trọng nhằm tạo sự đồng thuận. Chính quyền các cấp cần thường xuyên tổ chức các buổi làm việc, đối thoại với đại diện các tổ chức tôn giáo để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, đồng thời giải đáp các vướng mắc về pháp luật đất đai. Việc này giúp các cơ sở tôn giáo hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó chủ động, tích cực hợp tác với cơ quan nhà nước trong việc kê khai, đăng ký và sử dụng đất đúng pháp luật, hạn chế phát sinh khiếu kiện, tranh chấp đất đai tôn giáo.

V. Kết quả thực tiễn quản lý đất tôn giáo tại Quảng Bình

Nghiên cứu thực trạng quản lý đất tôn giáo tại tỉnh Quảng Bình cho thấy những kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt trong công tác cấp giấy chứng nhận. Theo số liệu thống kê trong luận văn của Nguyễn Thị Hoài, tính đến hết năm 2013, tỉnh đã đạt được những con số ấn tượng, thể hiện nỗ lực lớn của hệ thống chính trị địa phương. Kết quả này không chỉ đảm bảo quyền sử dụng đất tôn giáo cho các cơ sở mà còn góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình an ninh, xã hội. Việc sử dụng đất của đại đa số các cơ sở thờ tự diễn ra bình thường, ổn định, phục vụ đúng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Những số liệu cụ thể này là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của các chính sách và nỗ lực thực thi tại địa phương.

5.1. Thống kê tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tính đến 31/12/2013, tỉnh Quảng Bình đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 152 trên tổng số 166 cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất, đạt tỷ lệ 91,5%. Tổng diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận là 53,26 ha. Đây là một tỷ lệ rất cao, cho thấy sự quyết tâm và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của chính quyền tỉnh. Kết quả này đã cơ bản hoàn thành việc xác lập cơ sở pháp lý cho việc sử dụng đất của các tổ chức tôn giáo, tạo nền tảng vững chắc cho công tác quản lý lâu dài.

5.2. Đánh giá tình hình sử dụng đất của Phật giáo và Công giáo

Luận văn chỉ ra rằng, cả hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo đều có tình hình sử dụng đất ổn định. Các đất cơ sở tôn giáo chủ yếu được dùng cho mục đích thờ tự, sinh hoạt tôn giáo. Một số ít trường hợp có các hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm cơ sở từ thiện cũng được xem xét cấp giấy chứng nhận theo đúng mục đích sử dụng. Về cơ bản, việc quản lý và sử dụng đất của các cơ sở này tuân thủ quy hoạch sử dụng đất và các quy định của pháp luật, không có các vi phạm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ kiểm soát và bảo vệ môi trường thực trạng quản lý và sử dụng đất của các cơ sở tôn giáo tại tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giải thích một số khái niệm, thuật ngữ 1. Khái niệm về đất đai Theo V. Đôcutraiep (1846-1903): Đất là tầng ngoài cùng của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng của tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương.

Viện sĩ thổ nhưỡng nông hoá Liên Xô (cũ) V. Theo quan điểm của C. Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp [16]. Theo quan điểm của FAO thì đất được xem như là tổng thể của nhiều yếu tố gồm: Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thực vật, động vật, những biến đổi của đất do hoạt động con người [31].

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì nhiêu, trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ [38]. Theo Luật Đất đai 2003: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [26]. Theo Luật đất đai 2013: Đất đai là quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật Đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014. Ngay khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã ban hành các Nghị định, Bộ Tài PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 nguyên và Môi trường ban hành các Thông tư, quyết định hướng dẫn thi hành Luật. Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều so với Luật đất đai 2003. Các chương tăng mới là các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai trước đây thuộc chương II Luật Đất đai năm 2003 tách ra (có 6 mục chuyển thành chương và bổ sung thêm một chương có nội dung mới).

Luật Đất đai sửa đổi đã thể chế hóa đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng nêu trong Nghị quyết số 19- NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Phân loại đất Phân loại đất theo thổ nhưỡng: Ở Việt Nam, năm 1976 Bộ Nông nghiệp đã xây dựng bản đồ đất tỉ lệ 1/1.000, bảng phân loại đất chia đất của nước ta thành 13 nhóm với 30 loại đất theo phát sinh. Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ở nước ta đã sử dụng hệ thống phân loại đất theo định lượng FAO - UNESCO, bảng phân loại đất theo phương pháp FAO - UNESCO gồm 19 nhóm và 54 loại đất [15]. Phân loại đất theo mục đích sử dụng: Theo Luật Đất đai 2003, đất đai được phân thành 3 nhóm mục đích sử dụng: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng [26].

- Nhóm đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [5]. - Nhóm đất phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp là đất đang được sử dụng không thuộc nhóm đất nông nghiệp; bao gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác [5]. Trong các loại đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp có đất tôn giáo, Luật Đất đai năm 1993 chưa có khái niệm này. Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo; đất trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo đuợc Nhà nước cho phép hoạt động [26].

- Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sử dụng. Đất chưa sử dụng bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây [5]. Người sử dụng đất PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Theo Luật Đất đai 1993, người sử dụng đất được chia thành 3 nhóm, bao gồm: - Các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội; - Hộ gia đình và cá nhân; - Tổ chức, cá nhân nước ngoài [23]. Theo Luật Đất đai 2013, Điều 5, người sử dụng đất bao gồm: Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm: 1.

Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức); 2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân); 3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; 4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; 5.

Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ; 6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; 7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư. Như vậy, so với Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2013 đã quy định rõ hơn về người sử dụng đất, và cơ sở tôn giáo là 1 trong 7 nhóm người sử dụng đất.

Khi sử dụng đất, cơ sở tôn giáo cũng như những người sử dụng đất khác có các quyền cũng như nghĩa vụ tương ứng. Quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai 2003, nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm 13 nội dung như sau: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.

Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.

Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.

So với Luật Đất đai 1993 (chỉ bao gồm 7 nội dung quản lý nhà nước), Luật Đất đai 2003 có thêm quy định mới về Quản lý tài chính về đất đai; phát triển thị trường bất động sản; việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Theo Luật đất đai năm 2013, nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã tăng thêm 2 nội dung, cụ thể như sau: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 2.

Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ