Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Đất nông nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm đất nông nghiệp a. Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài, nhờ vào sự phong hoá đá mẹ dưới sự tác động của không khí, gió, nước, sinh vật…Sản phẩm của quá trình phong hoá đá đó là các chất vô cơ Như: N, C, S, Mg…Theo thời gian sản phẩm của quá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của thực vật bị chết, phân, chất thải của động vật, thực vật, (đây chính là một phần nguồn dinh dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này)… và hình thành nên đất.[30] Đất nông nghiệp có tính cố định vị trí, tính cố định giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối theo các yếu tố môi trường nơi có đất.
Đất nông nghiệp không giống như các hàng hóa khác là có thể sản sinh trong quá trình sản xuất, do đó, Đất nông nghiệp chỉ có giới hạn. Giá trị của đất nông nghiệp không giống nhau, đất nông nghiệp ở các vị trí khác nhau thì có giá trị khác nhau. Đất ở thành phố thì có giá trị hơn đất ở nông thôn và miền núi; đất có các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn, đất ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn sẽ có giá trị hơn là những nơi đất có điều kiện kém hơn … Vì thế, khi điều kiện, vị trí đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó được đầu tư và trở nên tốt hơn thì đất đó sẽ có giá trị tăng lên. Vị trí đất hoặc điều kiện đất không chỉ tác động, ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh, tạo nên lợi thế cạnh tranh thương mại cho một doanh nghiệp mà nó còn có giá trị, ý nghĩa quan trọng đối với một quốc gia, tỉnh, thành, quận, huyện.
Đất đai là một tài sản thường không bị hao mòn theo thời gian và luôn có xu hướng tăng giá trị lên theo thời gian. Luật Đất đai 2013 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công 11 trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, Đất nông nghiệp là điều kiện cần nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động KT- XH của con người. Một cách khác, không có đất thì sẽ không có quá trình sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người.
Do vậy, để sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp thì việc hiểu, biết rõ khái niệm về đất nông nghiệp là điều hét sức cần thiết. Khoản 2,Điều 4, Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ TNMT quy định: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”. Đất đai ở nước ta được phân thành nhiều loại, Điều 10 - Luật Đất đai 2013 quy định: “Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác … Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; … Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng”. Đất nông nghiệp, gồm có các loại: Đất trồng cây hàng năm, gồm: đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác.
Đặc điểm đất nông nghiệp 12 Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung của đất nông nghiệp đồng thời có những đặc điểm riêng của nó. * Đất nông nghiệp không thể sản sinh và có khả năng tái tạo Như chúng ta đã biết về quá trình hình thành đất nông nghiệp là quá trình của tự nhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Tính cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất nông nghiệp đồng thời cũng quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian (theo cả chiều rộng và chiều sâu). Chính vì vậy mà ta có thể nói đất nông nghiệp không thể tái sinh mà chỉ có thể bảo tồn và cải tạo dưới tác động của con người và thiên nhiên.
Từ đó, có thể kết luận đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có tính hai mặt: không thể tái sinh nhưng vẫn có khả năng tái tạo. Tính hai mặt này rất quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng con người phải luôn biết cách khai thác và sử dụng đất đai, không vắt kiệt khả năng sản xuất của đất nông nghiệp. * Tính sở hữu và sử dụng Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho người sở hữu đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng.
Người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp được nhà nước công nhận về mặt pháp lý. Người sở hữu đất nông nghiệp có quyền khai thác, mua bán, sử dụng, , ứng dụng khoa học vào sản xuất phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật nhà đặt ra…[19] Pháp luật nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước làm đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thể hiện vai trò của mình thông qua việc : - Quyết định mục đích sử dụng đất - Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất - Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất - Định giá đất 13 Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi có từ đất nông nghiệp thu được bằng các chính sách tài chính về đất nông nghiệp như: chính sách quy định về tiền thuê đất nông nghiệp, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp… * Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhau phụ thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó. Chính vì vậy mà chúng ta có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏ bazan, đất sét thịt, đất cát… Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu, điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con người lựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Khái niệm và nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Quản lý của Nhà nước về đất nông nghiệp là “Tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối và phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai”. [6] Đất nông nghiệp có thuộc tính đa dạng tùy thuộc vào mục đích của việc sử dụng đất như thế nào và có phù hợp với từng vùng địa lý, thổ nhưỡng; đất có tốt hay xấu, xét trong từng loại đất là dùng để làm gì, đất có thể tốt cho mục đích sử dụng này nhưng có thể lại không tốt cho mục đích khác. Đất nông nghiệp là tư liệu của sản xuất gắn liền với quá trình hoạt động kinh tế của con người. Con người tác động vào đất nhằm tạo ra sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của mình trong cuộc sống.
Tác động của con người có thể trực tiếp, có thể gián tiếp và làm thay đổi đặc điểm, tính chất của đất nông nghiệp, những tác động đó làm cho đất nông nghiệp từ một sản phẩm của tự 14 nhiên thành sản phẩm của lao động xã hội. Do tầm quan trọng của tài nguyên đất đai cũng như hiệu quả của việc sử dụng đất, đặc biệt là với các nước đang phát triển, khi mà sự phát triển KT- XH dựa khá nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai. Do đó, vấn đề QLĐNN luôn được Nhà nước ta hết sức quan tâm hiện nay. Theo Luật Đất đai 2013, quyền QLNN về đất nông nghiệp thể hiện chủ yếu vào 4 lĩnh vực cơ bản sau đây: - Nhà nước nắm chắc về tình hình đất đai, tức Nhà nước có các thông tin chính xác về số lượng, về chất lượng, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai, cụ thể như: + Về số lượng đất: Nhà nước nắm về diện tích đất đai trong lãnh thổ, trong từng vùng, từng đơn vị hành chính các tỉnh, thành, quận, huyện, xã; nắm về diện tích của các loại đất; về diện tích đất của từng người sử dụng và sự phân bố diện tích đất trên bề mặt lãnh thổ, đơn vị hành chính.
+ Về chất lượng đất: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của các loại đất; độ phì nhiêu, kết cấu, hệ số sử dụng các loại đất, … đặc biệt là đối với đất trồng lúa, đất nông nghiệp.