CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề cơ bản về nợ quá hạn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, phân loại nợ quá hạn Khái niệm về nợ quá hạn Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ quá hạn ở các quốc gia, trong một nền kinh tế tùy vào góc nhìn của các chủ thể khác nhau. Các hệ thống ngân hàng đều xây dựng các tiêu chí riêng để phân loại, theo dõi, giám sát nợ quá hạn và tìm ra các biện pháp xử lý có hiệu quả nhất. Nợ quá hạn là khoản nợ mà người đi vay (có thể cá nhân hoặc doanh nghiệp) không thể trả cả gốc và lãi vào ngày đến hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
(Tài chính.online) Nợ quá hạn là các khoản phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay. (Nguyễn Thị Thanh Phượng, 2016) Qua các khái niệm nêu trên, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả cho rằng: Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn thường là biểu hiện yếu kém về tài chính của khách hàng và là dấu hiệu rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NQH phát sinh là không thể tránh khỏi, nhưng nếu NQH vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Phân loại nợ quá hạn Nợ quá hạn được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Sau đây là 9 một số phương pháp phân chia nợ quá hạn thường được áp dụng nhất: Căn cứ vào thời gian quá hạn: Nợ quá hạn dưới 180 ngày; Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày; Nợ quá hạn trên 360 ngày Căn cứ vào thành phần kinh tế: Nợ quá hạn của các doanh nghiệp nhà nước; Nợ quá hạn của các doanh nghiệp tư nhân; Nợ quá hạn của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; Nợ quá hạn của các hộ sản xuất cá thể Căn cứ theo khả năng thu hồi: Nợ quá hạn có khả năng thu hồi 100%; Nợ quá hạn có khả năng thu hồi một phần; Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Căn cứ theo loại nguyên tệ: Nợ quá hạn bằng VNĐ; Nợ quá hạn bằng ngoại tệ Căn cứ theo thời hạn của khoản vay: Nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn; Nợ quá hạn của các khoản vay trung và dài hạn Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh: Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan; Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan 1. Các nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn của ngân hàng thương mại Trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, mỗi khoản tín dụng luôn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm cả những yếu tố tích cực góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của khoản vay đó. Bên cạnh đó có cả những yếu tố làm giảm chất lượng tín dụng và ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Vì vậy, việc phân tích, tìm hiểu các yếu tố đó là hết sức cần thiết đối với mỗi ngân hàng để từ đó phát huy những mặt tích cực đồng thời có những biện pháp hạn chế những mặt tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng của mỗi khoản tín dụng. Nguyên nhân bên ngoài: 10 Môi trường kinh tế: Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế; các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá; các chính sách của chính phủ như tiền lương, đầu tư công, các hướng ưu tiên đầu tư, miễn giảm thuế, trợ cấp; triển vọng kinh tế như mức gia tăng GDP, tỷ lệ thất nghiệp. Môi trường văn hóa và xã hội: Đặc điểm giá trị văn hóa - xã hội của các nhóm khách hàng khác nhau như tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, thu nhập trung bình, phân phối thu nhập, lối sống, học thức. tác động đến định vị sản phẩm/dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, qua đó tác động đến sự thành công hay thất bại của khách hàng vay vốn [4-tr.
Môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách thường xuyên thay đổi, hệ thống pháp luật không đồng bộ: Đây là vấn đề tất yếu của một đất nước đang trong quá trình kiến thiết và phát triển. Tuy nhiên điều này đôi khi cũng làm ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng. Sự biến động chính trị trong khu vực và thế giới càng làm tăng hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong thời kỳ đẩy mạnh quy trình hội nhập hôm nay. Đồng thời sự biến động ấy có thể dẫn đến sự thay đổi chính sách, làm ảnh hưởng đến chất lượng của các khoản tín dụng.
Thiên tai địch họa là rủi ro bất khả kháng của ngân hàng và khách hàng khi thực hiện một hợp đồng vay. Khi rủi ro xảy ra có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nếu rủi ro xảy ra lớn đòi hỏi phải có thời gian ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh mới có khả năng trả nợ thậm chí mới khắc phục được. Nguyên nhân từ khách hàng Kinh doanh thua lỗ do trình độ, năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng còn yếu kém.
Nhiều khách hàng tham gia kinh doanh quá nhiều mặt hàng, vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh vượt khả năng quản lý dẫn đến 11 ứ đọng hàng hoá, kinh doanh thua lỗ, vốn bị thất thoát. Ngoài ra việc thẩm định dự án đầu tư không đúng cũng dẫn đến tình trạng thua lỗ, nợ không trả được. Sử dụng vốn sai mục đích xin vay đã nêu trong phương án vay vốn và trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ngân hàng và khách hàng. Nhiều khách hàng dùng tiền ngân hàng quay vốn không đúng đối tượng kinh doanh hoặc xử lý vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên đã không trả nợ được đúng hạn.
Lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng: Một số khách hàng sau khi vay vốn của ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn đó vào mục đích phi sản xuất kinh doanh thậm chí còn sử dụng cho những mục đích trái pháp luật. Hơn nữa, một số khách hàng cố tình chây ỳ không thực hiện những cam kết trong hợp đồng tín dụng. Do vậy đã phát sinh nợ quá hạn. Đối tác của khách hàng không trả được nợ.
Nên khách hàng không có nguồn để trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn hạn chế: khi thẩm định dự án cho vay vốn, cán bộ tín dụng yếu về nghiệp vụ, khả năng phân tích các báo cáo tài chính kém kết hợp với việc thiếu thông tin về khách hàng nên chưa đánh giá được đầy đủ về tính khả thi của dự án. Việc chấp hành các nguyên tắc, thể lệ tín dụng quy trình xét duyệt chưa nghiêm túc. Các cán bộ tín dụng không xem xét kĩ hồ sơ và điều tra kĩ về khách hàng cũng như việc đánh giá sai lệch về giá trị tài sản thế chấp đã làm cho nguy cơ nợ quá hạn của ngân hàng tăng cao.
Định kỳ trả nợ chưa thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được hiểu là một khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian 12 đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng. Do vậy, kỳ hạn trả nợ phải được phải xác định dựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và doanh thu. Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không căn cứ vượt lên trên nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu vốn cần thiết hợp lý của khách hàng. Các hậu quả của nợ quá hạn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Nợ quá hạn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của một ngân hàng.
Tuy nhiên ảnh hưởng của nợ quá hạn không chỉ dừng lại trong phạm vi ngân hàng. Sở dĩ người ta phải quan tâm nhiều đến vấn đề nợ quá hạn của ngân hàng bởi nó có ảnh hưởng sâu rộng tới các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Sau đây ta sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của nợ quá hạn: Ảnh hưởng của nợ quá hạn đối với nền kinh tế: Sức ép lạm phát: NQH ở mức độ cao sẽ dẫn đến sự khan hiếm vốn một cách giả tạo. Một khối lượng vốn tồn đọng trong các khoản nợ quá hạn dẫn đến tiền trong lưu thông giảm sút gây sức ép tăng cung tiền mà hậu quả là lạm phát.
Đình chỉ sản xuất: NQH còn ảnh hưởng đến việc lưu thông tín dụng khiến vốn ùn tắc không đến được nơi cần vốn để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế. Khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, khủng hoảng kinh tế: ngân hàng là kênh chủ yếu thực hiện huy động và cho vay phát triển kinh tế. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh tế mang tính dây truyền. Tỷ lệ NQH cao nếu không kịp thời có biện pháp xử lý sẽ gây thua lỗ cho ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn cho vay, đầu tư do vậy bị thu hẹp ảnh hưởng tiêu cực 13 đến sự tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời trực tiếp làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và khủng hoảng kinh tế xã hội. Ảnh hưởng đối với ngân hàng: Giảm hiệu quả sử dụng vốn: NQH phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này. Việc tồn đọng này làm cho ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác mà có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng.
Nói cách khác NQH phát sinh đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Giảm lợi nhuận: thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ nguồn huy động phải trả chi phí huy động vốn. Do vậy, khoản vay không thu được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng làm giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn.
Kết quả là làm lợi nhuận của ngân hàng giảm.