CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN c ơ BẢN VÈ PHÁT TRIỀN NGUỒN NHÂN L ự c 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Nguồn nhân lực: Theo quan điểm của kinh tế nguồn nhân lực, “Nguồn nhân lực là nguôn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người” (1, tr.12) “Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước” (1, tr. Trong đó nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tiềm năng lao động ở đây bao gồm cả thể lực và trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Vậy với những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai” (1, ừ.2 Phát triển nguồn nhân lực: Con người luôn là trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội, coi trọng những giá trị con người tạo ra để tạo lập nên một tổ chức, một xã hội tôt đẹp.
Phát triên nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức kỹ năng và năng lực của mọi người trong xã hội. Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là "cả một quá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thê đạt được những tiêm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian" (2,tr. 4 Từ những quan điểm về phát triển nguồn nhân lực có thể đưa ra cách hiểu về phát triển nguồn nhân lực là một "quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế- xã hội", đó là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Con người là động lực và đồng thời là mục tiêu của sự phát triển thì từ đó phát triển nguồn nhân lực không chỉ có mục đích làm gia tăng về thu nhập của cải vật chất mà là mở rộng và nâng cao khả năng lựa chọn của con người đối với môi trường xung quanh; tạo cho họ có cơ hội tiếp cận với điều kiện và môi trường sống tốt hơn, đồng thời qua đó tăng cường năng lực và tiềm năng của con người phù họp hơn với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quá ưình phát triển nguồn nhân lực gồm phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người nhằm làm tăng năng lực thực thi nhiệm vụ của tổ chức và từng thành viên mà còn nhằm bảo đảm sự phát triển hiệu quả của tổ chức, là sự gia tăng số lượng phù hợp với mục tiêu và qui mô phát triển của tổ chức trong tương lai. Phát triển nguồn nhân lực là hoạt động mang tính chiến lược lâu dài, trang bị và nâng cao kiến thức, kỹ năng toàn diện cho nhân lực, nhằm hướng tới những nhu cầu dài hạn của tổ chức. Ngoài ra đó còn là việc thực hiện các chức năng và công cụ quản lý nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp vê mặt sô lượng và có chât lượng cao, và thông qua hoạt động của đội ngũ nhân viên đó để không ngừng nâng cao hiệu quả và sự phát triển bền vững của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực phải dựa trên công cụ "mô hình năng lực" để xác định một cách rõ ràng những năng lực cụ thể và tiềm năng của các cá nhân, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với năng lực cốt lõi của tổ chức.
Nội dung của "mô hình năng lực" sử dụng các chỉ tiêu tổng thể về kỹ năng để phân tích và đánh giá năng lực nhân sự; Qua phân tích, đánh giá các kỹ năng để xác định những thiếu hụt năng lực và định ra giải pháp ngắn hạn 5 hoặc dài hạn để bổ sung những thiếu hụt đó. Theo qui định của Hiệp hội những người làm đào tạo và phát triển Mỹ (ASTD) thì mô hình năng lực thê hiện 11 kỹ năng, chia thành 6 nhóm: (i) kỹ năng về năng lực cơ bản: đọc, viết, tính toán; (ii) kỹ năng truyền đạt: nói, nghe; (iii) kỹ năng về năng lực thích ứng: giải quyêt vân đê; (vi) kỹ năng phát triển: tự trọng, động viên và xác định mục tiêu; (v) kỹ năng tác động ảnh hưởng: hiểu biết về văn hóa tổ chức, lãnh đạo tập thê; (vi) kỹ năng làm việc nhóm. Tuy nhiên, mô hình năng lực của mỗi nhóm nhân sự thường khác nhau về số lượng và tỷ trọng của các kỹ năng. Trong các tổ chức nghiên cứu có hàm lượng trí thức cao như trong hệ thống Ngân hàng, đã có gợi ý về một mô hình năng lực thể hiện 16 về kỹ năng, chia thành 4 nhóm, như sau: (i) khả năng chuyên môn: kiến thức chuyên môn, khả năng tổng hợp, khả năng kinh doanh, tính linh động, (ii) khả năng cá nhân: tính hiếu học, chăm chỉ, liêm chính, khả năng chịu đựng căng thẳng; (iii) khả năng lãnh đạo: khả năng ra mục tiêu, giải quyết vấn đề, lãnh đạo qua gương mẫu, quản trị nguồn lực.
(iv) khả năng giao tiếp: có khả năng hướng dân, hô trợ, có khả năng xã giao, có tính lạc quan thực tế (3, tr. Nuôi dưỡng và tạo môi trường phát triển nguồn nhân lực là điều kiện nhưng cũng là kết quả của phát triên nguồn nhân lực. Các chính sách phát triển nhân lực vĩ mô nhăm tạo điêu kiện thuận lợi để người lao động phát huy năng lực bản thân và bảo vệ quyền lợi của người lao động thông qua điều tiết các mỗi quan hệ liên quan đến sử dụng và phát triên sức lao động. Môi trường làm việc thuận lợi cùng với đội ngũ gắn bó với tổ chức có thể nâng cao năng lực và kết quả công việc nhân viên trong tổ chức đó.
Mục tiêu của nuôi dưỡng môi trường là duy trì và khuyến khích một điều kiện làm việc, trong đó mọi thành viên được khích lệ để làm việc một cách tôt nhât và duy trì được khả năng cống hiến trong thời gian dài.3 Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định với mục đích mang đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. 6 Đào tạo nguồn nhân lực còn là quá trình học tập để chuẩn bị những kiên thức, kỹ năng cho tương lai, cho một vị trí mới, một công việc mới có nhiều cơ hội hơn dựa trên những định hướng tương lại của cá nhân và của tổ chức đó. Mỗi chương trình đào tạo đều mang ý nghĩa quan trọng và cần cho sự thành công của tổ chức, hoạt động đào tạo làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thê thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực là nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực đó. Để tồn tại và phát triển, con người không ngừng tác động vào thế giới và chịu sự tác động ngược lại của những biến đổi trong thế giới đó. Nhận thức và sử dụng những kiến thức cơ bản vào hoạt động hàng ngày là động cơ để con người tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống. Trong các giai đoạn của lịch sử thì giáo dục vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng, nó diễn ra trực tiếp ngay trong quá trình lao động sản xuất, ừong cuộc sống hàng ngày.
Trong xã hội ngày nay, các quốc gia hướng tới sự hòa hợp vê lợi ích của các tầng lớp trong xã hội, hướng tới một nền giáo dục bình đẳng cho mọi người. Như vậy, giáo dục chính là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin những hành vi, thói quen cư xử đúng đăn trong xã hội thông qua việc tổ chức các hoạt động và giao lưu. Quá trình giáo dục được xem như là một hệ thống gồm các yếu tố cấu thành: Mục đích của việc giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức giáo dục, người được giáo dục, người giáo dục, kết quả của quá trình giáo dục.5 Mối quan hệ giữa giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Giáo dục là nền tảng để tạo cho con người có một cái nhìn tổng quan, nền tảng kiến thức cơ bản, những nhân cách, hành vi, thói quen ứng xử phù họp với cuộc sống. Trên cơ sở giáo dục để đào tạo cho con người những kiến thức để đáp 7 ứng công việc thực tế và từ đó tiến hành đào tạo những kiến thức, kỹ năng nâng cao nhằm phát triển nguồn nhân lực, giúp họ đạt được những vị trí cao hơn trong tương lai.
Thực hiện được những mục tiêu lâu dài, chiến lược của tổ chức. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đều phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể như sau: Thứ nhất, cải tiến cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu nguồn nhân lực ở đây chính là thành phần, tỷ lệ các bộ phận hợp thành tổ chức và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ chức ấy. Cơ cấu nguồn nhân lực sẽ được xác định cụ thể hơn khi gắn với yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế của đơn vị, nó xuât phát từ mục tiêu của tổ chức, từ yêu cầu công việc phải hoàn thành, từ yêu cầu để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực một cách phù họp.