CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Phần đầu chương sẽ trình bày những lý luận cơ bản nhất về NHĐT, sau đó nêu lên quá trình hình thành và phát triển ngành NHĐT thế giới, phân tích tình hình hoạt động, hiệu quả hoạt động của các NHĐT thế giới trước và sau khủng hoảng kinh tế; đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm xây dựng và phát triển NHĐT từ các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Phần cuối chương phân tích về tính cấp thiết phải xây dựng NHĐT tại Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 1.
Khái niệm và chức năng của ngân hàng đầu tư 1. Khái niệm Theo Mạc Quang Huy (2009), đứng trên quan điểm truyền thống: NHĐT được hiểu là một chủ thể trung gian với chức năng chính là tư vấn và thực hiện huy động nguồn vốn trên thị trường vốn trung, dài hạn cho khách hàng (bao gồm các doanh nghiệp cũng như các chính phủ). Thomas (2011), NHĐT gắn liền với các giao dịch trên thị trường tư nhân và thị trường công chúng cho các công ty, chính phủ và các nhà đầu tư. Các giao dịch này bao gồm mua bán, sáp nhập, phát hành riêng lẻ cổ phiếu, chứng khoán vốn hoặc kết hợp cả hai.
Theo những khái niệm trên, có thể thấy NHĐT hiện đại mặc dù có nhiều thay đổi, mở rộng đối tượng và khá đa dạng về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên vẫn là một định chế tài chính trung gian chuyên về các nghiệp vụ hỗ trợ huy động vốn trung và dài hạn thông qua các nghiệp vụ phức tạp và có quy mô lớn như bảo lãnh phát hành, tư vấn mua bán, sáp nhập, tái cấu trúc và hoạt động như một nhà tạo lập thị trường. Hay nói cách khác, về cơ bản NHĐT thực chất là một CTCK nhưng phát triển ở mức độ cao với các loại nghiệp vụ đa dạng và phức tạp hơn. download by : skknchat@gmail.com 2 Những ngân hàng lớn và phổ biến bao gồm: Barclays, Goldman Sachs, Deutsche Bank, JP Morgan Chase, BUS, Credit Suisse, Citibank và Lazard. Một số NHĐT chuyên về phần lớn là khách hàng doanh nghiệp.
Nhiều NHĐT cũng cấp dịch vụ bán lẻ phục vụ cho các khách hàng nhỏ và khách hàng cá nhân. Chức năng của ngân hàng đầu tư Theo Mạc Quang Huy (2009), NHĐT có các chức năng chính: Chức năng nhà đầu tư và tạo lập thị trường: NHĐT thông qua nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng (đầu tư thụ động) thực hiện chức năng nhà tạo lập thị trường. Ngoài ra, ngân hàng đầu tư còn thực hiện nghiệp vụ tự doanh (đầu tư chủ động), tức là việc ngân hàng chủ động nắm gữa trạng thái “trường“ hoặc “đoản” đối với các sản phẩm khác nhau. Chức năng tư vấn: đây là chức năng chủ yếu của NHĐT.
Ngoài việc cung cấp các dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán, NHĐT còn tham gia tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn chiến lược. Với chức năng này, NHĐT đóng vai trò giúp khách hàng phân bổ tài sản đầu tư hợp lý và hoạt động hiệu quả hơn. Chức năng nhà cung cấp dịch vụ: với chức năng này, NHĐT giúp các quỹ đầu cơ thực hiện các giao dịch với nhà môi giới phụ, thu xếp vốn, thanh toán và đóng vai trò là nhà môi giới chính cho các quỹ này. Chức năng môi giới: NHĐT là chủ thể trung gian giữa người mua và người bán, chịu trách nhiệm tìm kiếm thông tin và kết nối bên mua, bên bán với nhau, qua đó hưởng một khoản phí.
Bởi vì với chức năng này, NHĐT không sở hữu chứng khoán nên không chịu rủi ro biến động giá, không cần sử dụng vốn ngân hàng và có mức độ rủi ro thấp. Chức năng nhận ủy thác: NHĐT có thể thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch do khách hàng quyết định và quản lý đầu tư cho khách hàng. download by : skknchat@gmail. Các nghiệp vụ và sản phẩm của ngân hàng đầu tư 1.
Các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư Hai nghiệp vụ chính của NHĐT chính là tư vấn mua bán, sáp nhập và bảo lãnh phát hành chứng khoán (chứng khoán vốn – cổ phiếu, chứng khoán nợ hoặc kết hợp cả hai). NHĐT hỗ trợ khách hàng huy động vốn thông qua việc mua toàn bộ chứng khoán từ đơn vị phát hành và phân phối lại cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức. NHĐT sẽ nhận được khoản thu từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nghiệp vụ cốt lõi thứ hai của NHĐT chính là tư vấn chiến lược hoạt động dựa trên mua, bán sáp nhập.
Những dịch vụ chủ yếu cung cấp chính là tư vấn tái cấu trúc, thực hiện các giao dịch trong các thương vụ mua, bán, tách rời, sáp nhập và chống lại thâu tóm. Phí tư vấn thường được thương lượng, và đây là một trong những nghiệp vụ hấp dẫn vì nếu thắng hay thua các NHĐT vẫn nhận được khoản phí nhất định. Những nghiệp vụ khác của NHĐT chính là tự doanh và ngân hàng bán buôn. NHĐT còn có thể sử dụng vốn của mình để kinh doanh hoặc đầu tư vốn của chính mình cũng từ các quỹ gia tăng từ bên ngoài và của các nhà đầu tư bất động sản.
Quản lý đầu tư cũng là một phần của các nghiệp vụ NHĐT, theo đó các NHĐT sẽ cung cấp các nghiệp vụ chính là quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng và quản lý gia sản. Đây được xem là một nghiệp vụ hấp dẫn hơn vì ít chịu rủi ro hơn và đóng góp bền vững vào trong tổng doanh thu của NHĐT. Ngoài ra, NHĐT cũng giúp khách hàng thực hiện các giao dịch chứng khoán qua nghiệp vụ môi giới, cho vay mua chứng khoán. Các sản phẩm của ngân hàng đầu tư Có nhiều cách phân loại khác nhau về sản phẩm của NHĐT, tuy nhiên nhìn chung sản phẩm chủ yếu mà các NHĐT cung cấp chính là cổ phiếu, trái phiếu, các sản phẩm phái sinh từ chứng khoán và các sản phẩm mới như đầu tư bất động sản, đầu tư download by : skknchat@gmail.com 4 vốn tư nhân, các sản phẩm tài trợ vốn và các sản phẩm phái sinh từ hàng hóa cơ bản.
Tùy theo mục đích của và mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng mà khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm này theo các dòng sản phẩm có thu nhập cố định hay dòng sản phẩm chứng khoán vốn có giá biến động theo thị giá của cổ phiếu. Tổ chức hoạt động của ngân hàng đầu tư Tổ chức hoạt động của NHĐT cũng như các tổ chức tài chính khác được chia làm các bộ phận chức năng và chia thành các phòng nghiệp vụ dựa trên các sản phẩm dịch vụ mà NHĐT cung cấp. Một NHĐT đa năng (điển hình như Morgan Stanley và Goldman Sachs) tổ chức thành các phòng ban với tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung được chia làm 03 bộ phận với các khối nghiệp vụ được mô tả theo Hình 1. download by : skknchat@gmail.com 5 Khối ngân hàng đầu tư (Investment banking) Khối đầu tư (Sale & Trading) Bộ phận kinh Khối nghiên cứu (Research) doanh (Front office) Khối quản lý đầu tư (Investment Management) Khối ngân hàng bán buôn (Merchant banking) Ngân hàng đầu tư Khối nhà môi giới chính (Prime brogerage) Khối pháp chế ( Legal and Compliance) Bộ quản lý rủi ro (Middle office) Khối kiểm soát, kiểm toán nội bộ (Internal Audit) Khối công nghệ thông tin (Technology) Bộ phận vận hành (Back Office) Khối quản lý nhân sự, cơ sở hạ tầng (Human resources and Operation) Hình 1.
Mô hình tổ chức hoạt động của ngân hàng đầu tư Nguồn: Liaw, K. Thomas (2011) Bộ phận kinh doanh: cung cấp các sản phẩm cho khách hàng, chịu trách nhiệm về tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho các NHĐT. Bộ phận quản lý rủi ro: Bộ phận này thường trực thuộc ban điều hành, định hướng và giúp NHĐT đi đúng hướng, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động. download by : skknchat@gmail.com 6 Bộ phận vận hành: Phụ trách về sơ sở hạ tầng, nhân sự, CNTT; cung cấp các thông tin về số lượng các giao dịch, chạy các mô hình và các phần mềm liên quan.
Hệ thống bảo mật và xử lý thông tin giúp hỗ trợ tích cực cho các hoạt động của NHĐT. Những mô hình hoạt động của ngân hàng đầu tư trên thế giới Nhìn chung có hai loại mô hình NHĐT cơ bản là NHĐT đa năng (cung cấp đầy đủ các dịch vụ NHĐT) và NHĐT chuyên sâu (cung cấp một hoặc một số nghiệp vụ NHĐT cốt lõi). Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, ngành ngân hàng đầu tư thế giới có nhiều sự thay đổi đáng kể, các ngân hàng đầu tư trước đây đã cơ cấu lại và thay đổi mô hình hoạt động, nhìn chung được phân loại thành ba nhóm mô hình chính1: các tập đoàn tài chính sở hữu NHĐT-Ngân hàng tổng hợp (financial holding companies), các NHĐT đa năng (full-services investment banks) và NHĐT chuyên sâu quy mô nhỏ (boutique investment banks). Các tập đoàn nắm giữ công ty con trong đó có ngân hàng đầu tư Những tập đoàn tài chính lớn hiện nay cung cấp đa dạng các dịch vụ ngân hàng, những ngân hàng quy mô lớn ở Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vừa cung cấp dịch vụ NHTM và NHĐT, những NHĐT tiêu biểu cho mô hình này được trình bày cụ thể trong bảng 1.
1 Theo phân loại theo Liaw, K. Thomas (2011) download by : skknchat@gmail. Lĩnh vực kinh doanh của các NHĐT nhóm ngân hàng tổng hợp Tên ngân Deutsche JPMorgan HSBC Citigroup hàng Bank Chase Lĩnh vực - Dịch vụ ngân - Dịch vụ - Dịch vụ ngân - Ngân hàng đầu kinh hàng dành cho NHĐT và tư hàng khách hàng tư doanh khách hàng cá vấn doanh cá nhân và - Dịch vụ tài nhân nghiệp doanh nghiệp chính - Dịch vụ ngân - Quản lý gia - NHĐT - Dịch vụ NHTM hàng cho doanh sản khách hàng - Quản lý đầu tư - Chứng khoán nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân - Quản lý gia sản và quản lý vốn tập đoàn - Quản lý tài - Quản lý tài sản - Dịch vụ ngân sản hàng toàn cầu Nguồn: Liaw, K. Thomas 2011 Sự hình thành nên mô hình này bắt nguồn từ việc các NHTM mở rộng sang các lĩnh vực NHĐT hoặc thâu tóm các NHĐT khác.
Ưu điểm của mô hình này chính là tận dụng mối quan hệ khách hàng rộng rãi, nguồn nhân lực cho chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có. Ngoài ra, các công ty con của tập đoàn hoạt động khá độc lập khi có biến động của một bộ phận này không làm ảnh hưởng đến hoạt động của những công ty con khác.