Luận Văn: Phát Triển Du Lịch Huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh (ĐH Văn Hoá Hà Nội)

Luận văn phát triển du lịch huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh: Nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững, hiệu quả tại địa phương.

Chuyên ngành

Văn hoá du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2009

98
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN ĐỨC THỌ

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.2. Lịch sử hình thành và đơn vị hành chính

1.3. Đặc điểm dân cư - kinh tế xã hội

1.4. Tiểu kết chương I

2. CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐỨC THỌ

2.1. Tiềm năng về cánh quan tự nhiên

2.2. Tiềm năng về hệ thống di tích lịch sử văn hóa

2.3. Đức Thọ - một vùng văn hóa đặc sắc

2.3.1. Văn hóa dân gian

2.3.2. Tri thức dân gian

2.3.3. Nghệ thuật dân gian

2.3.4. Hội

2.3.5. Nghề thủ công - mỹ nghệ

2.3.6. Văn hóa ẩm thực địa phương

2.3.7. Đất học hành - khoa bảng

2.4. Vị thế của du lịch Đức Thọ trong sự phát triển du lịch Hà Tĩnh

2.5. Huyện Đức Thọ nằm trên tuyến du lịch xuyên Á (qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo)

2.6. Tiểu kết chương II

3. CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH

3.1. Thực trạng hoạt động du lịch của huyện Đức Thọ

3.1.1. Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên vào hoạt động du lịch

3.1.2. Thực trạng kết cấu cơ sở vật chất kỹ thuật - hạ tầng, phục vụ du lịch

3.1.2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
3.1.2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

3.1.3. Thực trạng về đội ngũ cán bộ phục vụ du lịch

3.1.4. Tour - tuyến du lịch chủ yếu

3.1.5. Thực trạng về lượng khách

3.2. Giải pháp phát triển du lịch huyện Đức Thọ

3.2.1. Tăng cường cơ chế - chính sách quản lý nhà nước để phát triển du lịch huyện Đức Thọ

3.2.2. Qui hoạch để tạo ra các tuyến - điểm du lịch

3.2.3. Xây dựng các tour - tuyến du lịch

3.2.4. Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở vật chất kỹ thuật - hạ tầng phục vụ du lịch của huyện Đức Thọ

3.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch

3.2.6. Xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch của huyện Đức Thọ

3.3. Tiểu kết chương III

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Phát Triển Du Lịch Huyện Đức Thọ

Luận văn tập trung vào phát triển du lịch Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, một huyện giàu tiềm năng văn hóa và tự nhiên. Nghiên cứu này khám phá tiềm năng du lịch Đức Thọ, đánh giá thực trạng du lịch Đức Thọ, và đề xuất giải pháp phát triển du lịch Đức Thọ hiệu quả và bền vững. Luận văn cũng xem xét vị thế của du lịch Đức Thọ trong bối cảnh du lịch Hà Tĩnh và khu vực. Mục tiêu chính là khai thác tối đa các giá trị tiềm ẩn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Luận văn này khẳng định Đức Thọ là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, sở hữu nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ngành du lịch. Tuy nhiên, hiện tại những giá trị này chưa được khai thác đúng mức. Tác giả mong muốn đóng góp ý tưởng, giải pháp thiết thực để thúc đẩy du lịch huyện Đức Thọ phát triển, thu hút đông đảo du khách.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên nổi bật

Huyện Đức Thọ nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 30km. Nằm ở tọa độ 18°18' đến 18°35' vĩ Bắc, 105°38' đến 105°45' kinh Đông, Đức Thọ có vị trí trung tâm của xứ Nghệ. Địa hình đa dạng với núi đồi, bán sơn địa, sông hồ, đồng bằng, tạo nên cảnh quan phong phú. Sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố và sông Cả là nguồn cung cấp phù sa, tạo nên đồng bằng màu mỡ. Địa hình và vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch sinh thái Đức Thọdu lịch cộng đồng Đức Thọ.

1.2. Lịch sử hình thành và các đơn vị hành chính

Từ thời Văn Lang - Âu Lạc, vùng đất Đức Thọ thuộc bộ Cửu Đức. Qua các triều đại, địa giới và địa danh thay đổi nhiều lần: từ Cửu Đức - Đức Châu - Quang Yên đến Đức Quang - Đức Thọ. Trong lịch sử, Đức Thọ từng là trung tâm chính trị, văn hóa quan trọng của vùng. Hiện nay, huyện Đức Thọ có 27 xã và 1 thị trấn. Việc hiểu rõ lịch sử hình thành giúp khai thác du lịch văn hóa Đức Thọ gắn liền với các di tích lịch sử.

II. Tiềm Năng Vượt Trội Phát Triển Du Lịch Huyện Đức Thọ

Đức Thọ sở hữu nguồn tiềm năng du lịch to lớn cả về tự nhiên và văn hóa. Cảnh quan thiên nhiên đa dạng, từ núi non hùng vĩ đến sông nước hữu tình, tạo điều kiện phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phong phú là nền tảng vững chắc để phát triển du lịch văn hóa Đức Thọ, du lịch tâm linh Đức Thọ. Sự kết hợp hài hòa giữa tự nhiên và văn hóa tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho du lịch huyện Đức Thọ.

2.1. Tiềm năng từ cảnh quan tự nhiên độc đáo

Sông La uốn lượn, núi Tùng Lĩnh soi bóng, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Dãy Thiên Nhẫn hùng vĩ, dãy Trà Sơn trùng điệp, núi Tàng linh thiêng. Các ngọn núi và sông ngòi này tạo nên những điểm đến hấp dẫn cho du lịch sinh tháidu lịch khám phá Đức Thọ. Các khu vực này còn có nhiều di tích lịch sử và văn hóa, tạo thêm sự hấp dẫn cho du khách.

2.2. Hệ thống di tích lịch sử và văn hóa giá trị

Khu lưu niệm Tổng Bí thư Trần Phú, mộ Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng, đền Thái Yên... là những di tích lịch sử - văn hóa nổi bật. Các di tích này gắn liền với những nhân vật lịch sử kiệt xuất, những sự kiện lịch sử quan trọng. Khai thác du lịch lịch sử Đức Thọ giúp du khách hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa, lịch sử của huyện. Chùa Diên Quang là một điểm đến tâm linh quan trọng.

2.3. Giá trị văn hóa đặc sắc và đa dạng

Đức Thọ là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với các làn điệu dân ca, lễ hội, nghề thủ công... Văn hóa dân gian Đức Thọ mang đậm bản sắc xứ Nghệ. Khai thác du lịch văn hóa cộng đồng Đức Thọ giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tạo thu nhập cho người dân địa phương. Đặc biệt, ẩm thực Đức Thọ cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch.

III. Thực Trạng Du Lịch Hiện Tại Ở Huyện Đức Thọ Hà Tĩnh

Mặc dù sở hữu tiềm năng du lịch lớn, thực trạng du lịch Đức Thọ vẫn còn nhiều hạn chế. Hoạt động du lịch còn manh mún, chưa chuyên nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, hạ tầng du lịch chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch Đức Thọ còn yếu. Vì vậy, lượng khách du lịch đến Đức Thọ còn thấp, doanh thu du lịch chưa đáng kể.

3.1. Hoạt động khai thác tài nguyên du lịch còn hạn chế

Việc khai thác các di tích lịch sử và văn hóa, cảnh quan thiên nhiên chưa được đầu tư bài bản. Các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu tính hấp dẫn. Chưa có nhiều tour, tuyến du lịch đặc sắc. Sự liên kết giữa các điểm du lịch còn yếu. Nhiều di tích chưa được trùng tu và bảo tồn đúng cách.

3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng du lịch còn yếu kém

Hệ thống khách sạn, nhà hàng còn thiếu về số lượng và chất lượng. Giao thông đến các điểm du lịch còn khó khăn. Các dịch vụ hỗ trợ du lịch còn hạn chế. Vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch chưa đảm bảo. Nhiều khu vực còn thiếu điện và nước sạch.

3.3. Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu và yếu

Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch còn thiếu kinh nghiệm. Lực lượng hướng dẫn viên du lịch còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng. Nhân viên phục vụ trong các cơ sở du lịch chưa được đào tạo bài bản. Cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực để phát triển kinh tế du lịch Đức Thọ.

IV. Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Huyện Đức Thọ

Để phát triển du lịch Đức Thọ một cách bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Tăng cường cơ chế chính sách quản lý nhà nước về du lịch. Quy hoạch du lịch Đức Thọ một cách khoa học và bài bản. Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn, phù hợp với tiềm năng du lịch Đức Thọ. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng du lịch đồng bộ. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao. Xúc tiến quảng bá du lịch Đức Thọ một cách hiệu quả.

4.1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch

Ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào du lịch. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động du lịch. Phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cấp, các ngành trong quản lý du lịch. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.

4.2. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Đức Thọ

Quy hoạch du lịch Đức Thọ cần dựa trên tiềm năng du lịchthực trạng du lịch của huyện. Xác định các khu vực trọng điểm phát triển du lịch. Phân bổ nguồn lực hợp lý cho các dự án du lịch. Đảm bảo tính bền vững trong quy hoạch du lịch. Cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình quy hoạch.

4.3. Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và hấp dẫn

Xây dựng các tour du lịch văn hóa, sinh thái, tâm linh... Phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp... Tạo ra các sản phẩm lưu niệm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Đức Thọ. Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Cần chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Du Lịch

Nghiên cứu đã chỉ ra các giải pháp cụ thể để thúc đẩy phát triển du lịch Đức Thọ và được áp dụng vào thực tế. Các giải pháp bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch, tăng cường quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo. Kết quả là sự gia tăng đáng kể về lượng khách du lịch và doanh thu, đồng thời nâng cao nhận thức về tiềm năng du lịch của huyện.

5.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch

Việc cải thiện đường xá, khách sạn, nhà hàng và các tiện nghi công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho du khách. Các dự án đầu tư này đã góp phần vào việc tăng cường kinh tế du lịch Đức Thọ và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương.

5.2. Tăng cường hoạt động quảng bá du lịch

Các chiến dịch quảng bá trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội và các sự kiện du lịch đã giúp nâng cao nhận diện thương hiệu cho du lịch huyện Đức Thọ. Sự gia tăng về lượng khách du lịch là minh chứng cho hiệu quả của các hoạt động quảng bá này.

VI. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Du Lịch Huyện Đức Thọ

Với những tiềm năng du lịch to lớn và những nỗ lực không ngừng, du lịch Đức Thọ hứa hẹn sẽ có một tương lai tươi sáng. Cần tiếp tục đầu tư, phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Du lịch Đức Thọ sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch Hà Tĩnh và khu vực.

6.1. Định hướng phát triển du lịch bền vững

Cần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch phải gắn liền với lợi ích của cộng đồng địa phương. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái Đức Thọdu lịch cộng đồng Đức Thọ.

6.2. Tiếp tục hoàn thiện và phát triển sản phẩm du lịch

Cần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Đức Thọ. Cần liên tục đổi mới, sáng tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là quan ty hẹ Triệu nhà Tan, tiép đó là IIán, chúng chia cất nước ta từ 15 bộ thành hai quận, ba quận đem sáp nhập với quận huyện của Hán ở vúng Hoa Nam, quyết hiển nước ta thành “nội thuộc” Tần - Hán. Thời ấy Đức Thọ năm trong địa phân huyện Hàm Hoan, một huyện rộng lớn bao gồm hau nhu phan dat của hai tỉnh Nghệ Tĩnh, thuộc quận Cứu Chân. Sau cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, biết không dễ đồng hóa dan tộc này, nhà Ngô (Tam quốc) buộc phải cắt riêng 3 quận vốn thuộc đất nước ta lập thành Giao Châu, tách riêng phần đất phía nam quận Cửu Chân lập thành quận Cửu Đức, chia quận nảy thành 6 huyện: Hàm Hoàn, Cứu Đức, Việt Thường, Phủ Iĩnh, Dương Thành và Khúc Tự. Vùng Đức Thọ bây giờ một phan nam ở huyện Việt Thường.

Nhà Tắn thay Ngô chia Giao Châu thành 7 quận. Quận Cứu Đức bây giờ tương ứng hai tỉnh Nghệ Tĩnh. Đức Thọ thời ấy nằm trong địa phận huyện Cứu Đức, thuộc quận Cửu Đức. Quận ly đóng trên địa hạt Cứu Đức - Đức Tho ngày nay Nhà Lương (Nam Bắc Triểu) tách quận Cửu Chân thành Ái Châu, nhập hai quận Cửu Đức và Nhật Nam thành Đức Châu.

Thay nhá Lương, nhà Tùy đổi Đức Châu thành Hoan Châu có 8 huyện Riêng hai huyện Cửu Đức, Việt Thường vẫn dược giữ nguyễn. Quận ly vẫn dược dặt ở huyện Cửn Đức - Đức họ. Dưới thời nhà Dường, buổi đầu với chế độ “An Nam tổng quản”, đổi quận Nhật Nam thành châu Nam Đức. Sau đó không lâu đổi lại Đức Châu.

Sau khi dặt “An Nam đô hộ phủ” nhả Đường lấy Đức Châu (cä vùng Nghề Tĩnh) chia làm 3 châu: Châu Hoan, Châu I3iễn và Châu Phúc Lộc. Châu Phúc lộc gầm phan đất Nam Tĩnh trước. Châu Hoan có 4 huyện : Cửu Đức, Việt Thường, Phố Dương và Hoài Iloan. Năm Vũ Đức thử 9 (Đường CaoTể - 629), đặt thêm 3 huyện Yên Viễn, Pam La và Quang Yên.

Đến năm thứ 13, lấy Quang Yên và Yên Viễn thuộc vào huyện Cửu Đức. Theo sách “Nguyên Hỏa chí” chép trong bộ “Đại Việt địa dư toàn biến” thì phủ Mghệ An lĩnh 4 châu là Châu Hoan, châu Nam Tinh, chau Tra Lung, chau Ngoc Ma va 13 huyện có huyện Cổ La. Cễ La là tên huyện Đức Thọ thời đó. Bước sang kỉ nguyên độc lập tự chủ , qua cá triều đại Ngô ,Đinh, 1 Lê, Lý - trần, địa giới, địa danh có nhiều thay đối .1rong cuộc khởi nghĩa “ Kháng Minh - Phù Trần”, hai thủ lĩnh chỉ chốt của nhả Hậu Trần là Dặng Dung và Nguyễn Cạnh Dị đã chọn đất đặt hành dinh tại Chỉ La, tôn lập vua 'Trùng Quang lên ngôi Hoàng Dễ , tử đất này tiếp tục triển khai lực lượng chống quân Minh.

Từ Cổ La thời Lý , thời Trần đổi là Chỉ La - tên huyện Đức Thọ xưa một. lần nữa được ghi vào sử sách. Nhà Minh đô hộ nước ta, cả nước bị chia cất làm 15 phủ , dưới phủ lả châu, huyện. Hai tính Nghệ -Tĩnh bấy giờ chúng đặt hai phủ.

Phủ Nghệ An có 2 châu và 16 huyện, trong đó có huyện Chỉ La (Dức Thọ), Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419) Minh Thành Tổ đồn nhập cá 3 huyện Chi 1a,Thể Du và Nha Nghị làm một huyện lấy tên là huyện Nha Nghỉ Thời 1ê Sơ, tên huyện gọi là 1a Giang. Sau đời Trung Hưng, để trảnh tên hủy chúa Trịnh Giang nên đổi tên là La Sơn. Thời Gia Long, trong bộ sách “ Tổng trần xã danh bị lãm” La Sơn được ghi lả một trong bốn huyện của phú Đức Quang. Đến năm Minh Mệnh thử 3 (1822) vi dụng phải tên hủy nhà vua cho déi tên Đức Quang thành phủ Đức Thọ.

Năm thứ 7 (1826), nha vua cho cắt hai huyện phía ngoài chuyển sang phủ Anh Sơn - Nghệ An giữ cho dia ban phủ Dức Thọ có điều kiện tự nhiên hợp lý hơn. Năm thứ 12 (1831) nhà vua cắt hẳn hai phủ Đức Thọ và IIà Hoa từ tỉnh Nghệ An thánh lập tỉnh mới Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thử 6 ( 1853), cắt phủ Hà Hoa lập riêng đạo Hà Tĩnh, chuyển phủ Đức Thọ về Tĩnh Nghệ An. Nhưng đến năm thứ 28 (1875), Tự Đức đã lập lại tỉnh Hà Tĩnh như thời vua Minh Mạng, Từ đó, địa danh phử Đức Thọ - huyện La Sơn được giữ ốn định , nhưng về địa giới củn tiếp tục có sự tách nhập khá nhiêu lần Nam Duy Tan thir 9 (1915), chuyển tổng Đồng Công của huyện Hương Sơn về huyện Đức Thọ.

Năm Khải Định thứ 6 (1921), tách tổng Lai Thạch vốn thuộc Dức Thọ chuyển về Can Lộc. Sau cách mạng Tháng Tám, cấp hành chính còn có cấp bộ, khu. Từ 1959, nhà nước ta chủ trương xây dựng bộ máy tổ chức hành chính 4 cấp thống nhất ( cẤp trưng ương, tỉnh, huyền , xã).'Lhực hiện chủ trương đó, huyện Đức "Thẹ - một địa danh mới thay cho phủ Đức Thọ và huyện La Sơn cũ. Mặt khác, do những bât hợp lý về mặt địa dư từ trước để lại hoặc do những yêu oầu mời trong công Láo chỉ đạo công cuộc xây đựng và bảo vộ, từ sau cách mang Tháng Tám còn phải sắp xếp điều chỉnh.

chuyển nhượng một số xã giáp giới với các huyện lân cận. Năm 1946 -1947, nhập các xã Lâm Thao, Iiòa Duyệt ( thuộc tổng Hương Khê - huyện Hương Khê), Phương Duệ, Yên Duệ, Thượng Bằng, Hạ Bằng, Lệ Đông (thuộc tổng Thượng Đồng ) và xã An Phú (tổng Dị Ôc - huyện Hương Sơn) về Dức Thọ. Năm 1948 -1949, nhập 2 xã Hồng Tiên và Thiên Thuận nguyên thuộc Can Lộc chuyển sang thành xã Bite Hong va Dire Thuan Năm 1992, cắt hai xã Đức Hồng và Đức Thuận và một phần đất xã Đức Thịnh chuyển cho thị xã Hồng Lĩnh mới dược thành lập Năm 2000, cắt 6 xã: Dức Liên, Dức Hương, Dức Bồng, Dức Lĩnh, Dức Giang, Ân Phú chuyến sang huyện Vũ Quang - huyện mới thành lập. Như vậy đến cuối năm 2000 huyền Đức Thọ chỉ còn 27 xã,1 thị wan bao gồm Đức Vĩnh, Đức Quang, Đức Chầu Đức Tủng, Yên Hỗ, Yên Đẳng, ‘Tang Anh, Hie Lang, Đức Đồng, Iần Hương, Đức Nhân, Đức Thủy, Thái Yên, Dúc Thanh, Trung Lễ, Dức Lâm, Dức Dũng, Dức An, Dức Lập, Dức Lac, Dic Long, Dire Ilda, Bui Xá, Đức Yên, Trường Sơn, Liên Minh, Đức Thịnh, Đức La và thị trấn Đức Thọ.

Với diện tích đất 203 km, dân số 120.150 người Phú ly Đức Quang cũng có ly sé La Son cuối đời Lê đặt ở Phi Cáo ( Thịnh Quả), đời Nguyễn đời sang Yên I1Š rồi lên xã Yên Trung nay là thị trần Đức Thọ. Đặc điểm dân cư - kinh lễ xã hội. Căn cứ vào cảnh quan địa lý, điều kiện tự nhiên và căn cứ vào chứng cử lịch sử có thể thây rằng công đông cư dân Dức Thọ từ trước đến nay là công đồng khai phá đồng bằng, tiến xuống đồng bằng. Trước tiên là từ các đỗi núi xung quanh và sau đỏ là thiên di từ các nơi khác về cùng cộng cư, tụ cư để cing dựng xây nên công dông các làng xóm, xây dựng nên Chỉ L.a - la Son - Đức Thọ.

Một bô phân cư dân thiên di từ nới khác về cũng bắt dầu chiếm lĩnh triển núi để đứng chân rồi sau đó mới tiến xuống đồng bing Cho đến nay, chưa có tài liêu để khắng định được quá trình đó bắt đầu từ Tủc nào nhưng căn cứ vào các chứng cứ lịch sử thì người khai phá đông bằng châu thổ sông La đầu tiên thuộc lớp người của thời đại lùng Vương, thời Văn Lang - Âu Lạc. Tất nhiên sư khai phá đỏ chỉ mới là bắt đầu. Họ từ trên đổi, trên núi, từ hái lượm, sẵn bắt, trồng nương tiến dẫn xuống dánh bắt cá, trồng lúa trồng rau trên các bãi sông rồi trồng lúa trên các chân ruộng thập, Một yếu tố quan trọng để hình thành và ổn định cộng đồng dân cư Đức Thọ lả quá trình thiên di để cộng cư và Lụ cư từ Sau Công Nguyên, đặc biệt là sau khi thoát khối thời ký Đắc thuộc. Nghiên cứu lịch sử các làng, các dòng họ ta thay phần lớn đều cỏ nguồn pốc thiên di rõ ràng.

Nguồn gốc gần là từ các vùng lân cận như ở trên nửi xuống, nguồn gốc xa là từ phía Bắc vào. Ví dụ làng Tùng Ảnh có mấy họ lớn thì đều có nguồn gốc thiên di. Đáng chú ý là theo giá phả các dòng họ này thỉ cơ bản về lụ cư ở đây tử khoảng đời nhà Trần, một số vào dầu đời Lê. Phần lớn các ông tổ của các dỏng họ nay a đừng chân trước tiên ở trên dải, sau dó thể hệ con cháu mới tỏa xuống déng bằng Quá trình này chắc chắn là do nhiều yếu tế.

Thử nhất là do việc phủ sa bồi dấp, châu thổ ngày cảng cao. Thử hai là do phát triển dân số nên buộc phải chiếm lĩnh và khai phá dỗng bằng để tần tại và phát triển hơn nữa. Ở động bằng có thể trồng được nhiều loại cây nhất là trồng lúa, đánh bắt được nhiều loại thủy sản. Thứ ba, khai phá đồng bằng tiến sát các đòng sông là xu thể tắt yếu bắt buậc để đáp ứng nhu câu giao lưu ngày càng rộng rãi.

Sự giao Tưu nảy là yếu tố nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng. Miặt khác, nhờ các đỏng sông có đồng bằng phủ sa màu mỡ thuận lợi cho việc làm ăn sinh sống mà cư dân đến tụ cư ngày cảng đông. Tim hiểu lịch sử và căn cứ vào hiện trạng ta thấy các làng ở Đức Thọ được bố trí lập trung vào hai loại địa hình chủ yếu là trên đôi thấp để xudng đồng cày ruộng, trồng lúa, trằng khơai. và ở men hừ sông dễ bắt cá, tôm, cào hến.

Dân cư của Đức ‘Tho tir xua và hiện nay vẫn thé, một bên lả dựa vào đổi, một bên là dựa vào sông vả củng hướng vào đồng ruộng Bởi mưu sinh để tôn tại thích ứng điều kiên địa lý tự nhiên và lich sử xã hội đó, người dân Dức Thọ trong suốt trường kỳ lịch sử đã dần hinh thinh cho mình những nét tính cách dễ phân biệt được trên tổng thể cơ bản tính cách của người Hả Tĩnh người xử Nghệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ