Mở đầu là quan ty hẹ Triệu nhà Tan, tiép đó là IIán, chúng chia cất nước ta từ 15 bộ thành hai quận, ba quận đem sáp nhập với quận huyện của Hán ở vúng Hoa Nam, quyết hiển nước ta thành “nội thuộc” Tần - Hán. Thời ấy Đức Thọ năm trong địa phân huyện Hàm Hoan, một huyện rộng lớn bao gồm hau nhu phan dat của hai tỉnh Nghệ Tĩnh, thuộc quận Cứu Chân. Sau cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, biết không dễ đồng hóa dan tộc này, nhà Ngô (Tam quốc) buộc phải cắt riêng 3 quận vốn thuộc đất nước ta lập thành Giao Châu, tách riêng phần đất phía nam quận Cửu Chân lập thành quận Cửu Đức, chia quận nảy thành 6 huyện: Hàm Hoàn, Cứu Đức, Việt Thường, Phủ Iĩnh, Dương Thành và Khúc Tự. Vùng Đức Thọ bây giờ một phan nam ở huyện Việt Thường.
Nhà Tắn thay Ngô chia Giao Châu thành 7 quận. Quận Cứu Đức bây giờ tương ứng hai tỉnh Nghệ Tĩnh. Đức Thọ thời ấy nằm trong địa phận huyện Cứu Đức, thuộc quận Cửu Đức. Quận ly đóng trên địa hạt Cứu Đức - Đức Tho ngày nay Nhà Lương (Nam Bắc Triểu) tách quận Cửu Chân thành Ái Châu, nhập hai quận Cửu Đức và Nhật Nam thành Đức Châu.
Thay nhá Lương, nhà Tùy đổi Đức Châu thành Hoan Châu có 8 huyện Riêng hai huyện Cửu Đức, Việt Thường vẫn dược giữ nguyễn. Quận ly vẫn dược dặt ở huyện Cửn Đức - Đức họ. Dưới thời nhà Dường, buổi đầu với chế độ “An Nam tổng quản”, đổi quận Nhật Nam thành châu Nam Đức. Sau đó không lâu đổi lại Đức Châu.
Sau khi dặt “An Nam đô hộ phủ” nhả Đường lấy Đức Châu (cä vùng Nghề Tĩnh) chia làm 3 châu: Châu Hoan, Châu I3iễn và Châu Phúc Lộc. Châu Phúc lộc gầm phan đất Nam Tĩnh trước. Châu Hoan có 4 huyện : Cửu Đức, Việt Thường, Phố Dương và Hoài Iloan. Năm Vũ Đức thử 9 (Đường CaoTể - 629), đặt thêm 3 huyện Yên Viễn, Pam La và Quang Yên.
Đến năm thứ 13, lấy Quang Yên và Yên Viễn thuộc vào huyện Cửu Đức. Theo sách “Nguyên Hỏa chí” chép trong bộ “Đại Việt địa dư toàn biến” thì phủ Mghệ An lĩnh 4 châu là Châu Hoan, châu Nam Tinh, chau Tra Lung, chau Ngoc Ma va 13 huyện có huyện Cổ La. Cễ La là tên huyện Đức Thọ thời đó. Bước sang kỉ nguyên độc lập tự chủ , qua cá triều đại Ngô ,Đinh, 1 Lê, Lý - trần, địa giới, địa danh có nhiều thay đối .1rong cuộc khởi nghĩa “ Kháng Minh - Phù Trần”, hai thủ lĩnh chỉ chốt của nhả Hậu Trần là Dặng Dung và Nguyễn Cạnh Dị đã chọn đất đặt hành dinh tại Chỉ La, tôn lập vua 'Trùng Quang lên ngôi Hoàng Dễ , tử đất này tiếp tục triển khai lực lượng chống quân Minh.
Từ Cổ La thời Lý , thời Trần đổi là Chỉ La - tên huyện Đức Thọ xưa một. lần nữa được ghi vào sử sách. Nhà Minh đô hộ nước ta, cả nước bị chia cất làm 15 phủ , dưới phủ lả châu, huyện. Hai tính Nghệ -Tĩnh bấy giờ chúng đặt hai phủ.
Phủ Nghệ An có 2 châu và 16 huyện, trong đó có huyện Chỉ La (Dức Thọ), Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419) Minh Thành Tổ đồn nhập cá 3 huyện Chi 1a,Thể Du và Nha Nghị làm một huyện lấy tên là huyện Nha Nghỉ Thời 1ê Sơ, tên huyện gọi là 1a Giang. Sau đời Trung Hưng, để trảnh tên hủy chúa Trịnh Giang nên đổi tên là La Sơn. Thời Gia Long, trong bộ sách “ Tổng trần xã danh bị lãm” La Sơn được ghi lả một trong bốn huyện của phú Đức Quang. Đến năm Minh Mệnh thử 3 (1822) vi dụng phải tên hủy nhà vua cho déi tên Đức Quang thành phủ Đức Thọ.
Năm thứ 7 (1826), nha vua cho cắt hai huyện phía ngoài chuyển sang phủ Anh Sơn - Nghệ An giữ cho dia ban phủ Dức Thọ có điều kiện tự nhiên hợp lý hơn. Năm thứ 12 (1831) nhà vua cắt hẳn hai phủ Đức Thọ và IIà Hoa từ tỉnh Nghệ An thánh lập tỉnh mới Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thử 6 ( 1853), cắt phủ Hà Hoa lập riêng đạo Hà Tĩnh, chuyển phủ Đức Thọ về Tĩnh Nghệ An. Nhưng đến năm thứ 28 (1875), Tự Đức đã lập lại tỉnh Hà Tĩnh như thời vua Minh Mạng, Từ đó, địa danh phử Đức Thọ - huyện La Sơn được giữ ốn định , nhưng về địa giới củn tiếp tục có sự tách nhập khá nhiêu lần Nam Duy Tan thir 9 (1915), chuyển tổng Đồng Công của huyện Hương Sơn về huyện Đức Thọ.
Năm Khải Định thứ 6 (1921), tách tổng Lai Thạch vốn thuộc Dức Thọ chuyển về Can Lộc. Sau cách mạng Tháng Tám, cấp hành chính còn có cấp bộ, khu. Từ 1959, nhà nước ta chủ trương xây dựng bộ máy tổ chức hành chính 4 cấp thống nhất ( cẤp trưng ương, tỉnh, huyền , xã).'Lhực hiện chủ trương đó, huyện Đức "Thẹ - một địa danh mới thay cho phủ Đức Thọ và huyện La Sơn cũ. Mặt khác, do những bât hợp lý về mặt địa dư từ trước để lại hoặc do những yêu oầu mời trong công Láo chỉ đạo công cuộc xây đựng và bảo vộ, từ sau cách mang Tháng Tám còn phải sắp xếp điều chỉnh.
chuyển nhượng một số xã giáp giới với các huyện lân cận. Năm 1946 -1947, nhập các xã Lâm Thao, Iiòa Duyệt ( thuộc tổng Hương Khê - huyện Hương Khê), Phương Duệ, Yên Duệ, Thượng Bằng, Hạ Bằng, Lệ Đông (thuộc tổng Thượng Đồng ) và xã An Phú (tổng Dị Ôc - huyện Hương Sơn) về Dức Thọ. Năm 1948 -1949, nhập 2 xã Hồng Tiên và Thiên Thuận nguyên thuộc Can Lộc chuyển sang thành xã Bite Hong va Dire Thuan Năm 1992, cắt hai xã Đức Hồng và Đức Thuận và một phần đất xã Đức Thịnh chuyển cho thị xã Hồng Lĩnh mới dược thành lập Năm 2000, cắt 6 xã: Dức Liên, Dức Hương, Dức Bồng, Dức Lĩnh, Dức Giang, Ân Phú chuyến sang huyện Vũ Quang - huyện mới thành lập. Như vậy đến cuối năm 2000 huyền Đức Thọ chỉ còn 27 xã,1 thị wan bao gồm Đức Vĩnh, Đức Quang, Đức Chầu Đức Tủng, Yên Hỗ, Yên Đẳng, ‘Tang Anh, Hie Lang, Đức Đồng, Iần Hương, Đức Nhân, Đức Thủy, Thái Yên, Dúc Thanh, Trung Lễ, Dức Lâm, Dức Dũng, Dức An, Dức Lập, Dức Lac, Dic Long, Dire Ilda, Bui Xá, Đức Yên, Trường Sơn, Liên Minh, Đức Thịnh, Đức La và thị trấn Đức Thọ.
Với diện tích đất 203 km, dân số 120.150 người Phú ly Đức Quang cũng có ly sé La Son cuối đời Lê đặt ở Phi Cáo ( Thịnh Quả), đời Nguyễn đời sang Yên I1Š rồi lên xã Yên Trung nay là thị trần Đức Thọ. Đặc điểm dân cư - kinh lễ xã hội. Căn cứ vào cảnh quan địa lý, điều kiện tự nhiên và căn cứ vào chứng cử lịch sử có thể thây rằng công đông cư dân Dức Thọ từ trước đến nay là công đồng khai phá đồng bằng, tiến xuống đồng bằng. Trước tiên là từ các đỗi núi xung quanh và sau đỏ là thiên di từ các nơi khác về cùng cộng cư, tụ cư để cing dựng xây nên công dông các làng xóm, xây dựng nên Chỉ L.a - la Son - Đức Thọ.
Một bô phân cư dân thiên di từ nới khác về cũng bắt dầu chiếm lĩnh triển núi để đứng chân rồi sau đó mới tiến xuống đồng bing Cho đến nay, chưa có tài liêu để khắng định được quá trình đó bắt đầu từ Tủc nào nhưng căn cứ vào các chứng cứ lịch sử thì người khai phá đông bằng châu thổ sông La đầu tiên thuộc lớp người của thời đại lùng Vương, thời Văn Lang - Âu Lạc. Tất nhiên sư khai phá đỏ chỉ mới là bắt đầu. Họ từ trên đổi, trên núi, từ hái lượm, sẵn bắt, trồng nương tiến dẫn xuống dánh bắt cá, trồng lúa trồng rau trên các bãi sông rồi trồng lúa trên các chân ruộng thập, Một yếu tố quan trọng để hình thành và ổn định cộng đồng dân cư Đức Thọ lả quá trình thiên di để cộng cư và Lụ cư từ Sau Công Nguyên, đặc biệt là sau khi thoát khối thời ký Đắc thuộc. Nghiên cứu lịch sử các làng, các dòng họ ta thay phần lớn đều cỏ nguồn pốc thiên di rõ ràng.
Nguồn gốc gần là từ các vùng lân cận như ở trên nửi xuống, nguồn gốc xa là từ phía Bắc vào. Ví dụ làng Tùng Ảnh có mấy họ lớn thì đều có nguồn gốc thiên di. Đáng chú ý là theo giá phả các dòng họ này thỉ cơ bản về lụ cư ở đây tử khoảng đời nhà Trần, một số vào dầu đời Lê. Phần lớn các ông tổ của các dỏng họ nay a đừng chân trước tiên ở trên dải, sau dó thể hệ con cháu mới tỏa xuống déng bằng Quá trình này chắc chắn là do nhiều yếu tế.
Thử nhất là do việc phủ sa bồi dấp, châu thổ ngày cảng cao. Thử hai là do phát triển dân số nên buộc phải chiếm lĩnh và khai phá dỗng bằng để tần tại và phát triển hơn nữa. Ở động bằng có thể trồng được nhiều loại cây nhất là trồng lúa, đánh bắt được nhiều loại thủy sản. Thứ ba, khai phá đồng bằng tiến sát các đòng sông là xu thể tắt yếu bắt buậc để đáp ứng nhu câu giao lưu ngày càng rộng rãi.
Sự giao Tưu nảy là yếu tố nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng. Miặt khác, nhờ các đỏng sông có đồng bằng phủ sa màu mỡ thuận lợi cho việc làm ăn sinh sống mà cư dân đến tụ cư ngày cảng đông. Tim hiểu lịch sử và căn cứ vào hiện trạng ta thấy các làng ở Đức Thọ được bố trí lập trung vào hai loại địa hình chủ yếu là trên đôi thấp để xudng đồng cày ruộng, trồng lúa, trằng khơai. và ở men hừ sông dễ bắt cá, tôm, cào hến.
Dân cư của Đức ‘Tho tir xua và hiện nay vẫn thé, một bên lả dựa vào đổi, một bên là dựa vào sông vả củng hướng vào đồng ruộng Bởi mưu sinh để tôn tại thích ứng điều kiên địa lý tự nhiên và lich sử xã hội đó, người dân Dức Thọ trong suốt trường kỳ lịch sử đã dần hinh thinh cho mình những nét tính cách dễ phân biệt được trên tổng thể cơ bản tính cách của người Hả Tĩnh người xử Nghệ.