Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. - Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. download by : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Khái niệm về dịch vụ: Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Trong marketing, Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. [16] Như vậy, về tổng quan thì dịch vụ là một quá trình hoạt động trong đó bao gồm những nhân tố có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sỡ hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Xét trên giác độ hàng hóa, thì dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó trên thị trường. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng: Hiện nay chưa có một tài liệu nào công bố hay đưa ra một khái niệm chung nhất về dịch vụ ngân hàng. Theo David Cox (1997) hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại (NHTM) đều gọi là dịch vụ ngân hàng [1].
Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán…mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản…của họ, nhờ đó ngân hàng thu phí, chênh lệch lãi suất và tỷ giá. download by : skknchat@gmail.com 2 Ở nước ta, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật Tổ chức tín dụng quy định nhưng không có định nghĩa giải thích. Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 không nhắc đến dịch vụ ngân hàng, mà chỉ nhắc đến các hoạt động của NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” là việc cung ứng phương tiện thanh toán: thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
[20] Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) thì: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”. [21] Trong đó, dịch vụ ngân hàng bao gồm: - Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng; - Cho vay dưới các hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại; - Thuê mua tài chính; - Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm: Thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; - Bảo lãnh và cam kết; - Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về công cụ thị trường tiền tệ, ngoại hối; các sản phẩm tài chính phái sinh; các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn; các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như: hoán đổi, hợp đồng tỷ giá kỳ hạn; chứng khoán có thể chuyển nhượng; download by : skknchat@gmail.com 3 - Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó; - Môi giới tiền tệ; - Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác; - Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm: Chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác; - Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; - Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan, kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn hoạch định chiến lược doanh nghiệp. Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động của ngân hàng, được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL): Các chuyên gia của Học viện công nghệ Châu Á – AIT cho rằng: “Dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông”.[23] Như vậy, có thể hiểu thực chất dịch vụ NHBL là ngân hàng thương mại cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính cho khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các DNNVV thông qua mạng lưới phân phối vừa truyền thống như chi nhánh/phòng giao dịch và phi truyền thống như giao dịch qua: ATM, POS, internet banking, mobile banking… Trong hoạt động NHBL, các ngân hàng cần quan tâm đến 3 vấn đề sau: - Xây dựng kênh phân phối là mối quan tâm lớn của dịch vụ NHBL, đặc biệt là hệ thống công nghệ thông qua các phương tiện, kênh phân phối. Các NHTM lớn download by : skknchat@gmail.com 4 trên thế giới cũng đang thử nghiệm các kỹ năng phân phối đa kênh trong triển khai dịch vụ NHBL. - Xác định khách hàng và nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm tòi và khám phá thị trường, từ đó xây dựng mối liên kết và cơ chế tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính. Việc phát hiện ra các thị trường chưa được khai phá là điều quan trọng bao gồm khách hàng, loại sản phẩm họ cần và kênh phân phối.
Đây là những thị trường tiềm năng lớn của dịch vụ NHBL vì khách hàng chưa tiếp xúc nhiều với dịch vụ ngân hàng. - Kết hợp thương mại và tài chính, các hoạt động tài chính với nhau trong mối liên hệ chung, chú trọng vào các mối liên kết mới như bancassurance, ngân hàng – chứng khoán…. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHBL rất lớn: Đối tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là cá nhân, hộ gia đình, DNNVV. Đây là nhóm đối tượng khách hàng có số lượng rất lớn và đa dạng về hình thức phục vụ.
Dân số ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội làm cho số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NHBL càng tăng cao. Chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao: dịch vụ NHBL phục vụ cho các nhu cầu giao dịch thường xuyên của người dân như thanh toán tiền hàng, thanh toán hợp đồng, chuyển tiền… Do đó, số lượng giao dịch rất lớn nhưng giá trị của mỗi giao dịch không lớn. Vì vậy, chi phí bình quân trên mỗi giao dịch thường khá cao, lợi nhuận thu được ít nhưng xét trên tổng số lượng giao dịch thì lợi nhuận thu được là đáng kể. Dịch vụ NHBL là dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện và có độ rủi ro thấp: vì khách hàng mục tiêu là khách hàng cá nhân nên phần lớn các giao dịch tập trung vào mở tài khoản tiết kiệm, tiền gửi, chuyển khoản, vay vốn, mở thẻ… Số lượng khách hàng của dịch vụ NHBL lớn, giá trị của mỗi giao dịch thường nhỏ nên rủi ro được phân tán và mang lại nguồn doanh thu ổn định và an toàn hơn cho ngân hàng.
download by : skknchat@gmail.com 5 Luôn cải tiến cho phù hợp với nhu cầu đa dạng và gia tăng của khách hàng: đối tượng của dịch vụ NHBL chủ yếu là khách hàng cá nhân khác nhau về trình độ, thu nhập, tính cách, sở thích, nghề nghiệp, độ tuổi….nên nhu cầu của họ rất đa dạng. Bên cạnh đó, các điều kiện cuộc sống luôn thay đổi làm cho nhu cầu của họ cũng thay đổi theo. Do đó, các dịch vụ NHBL phải đa dạng và nắm bắt được sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng để thỏa mãn họ. Nhạy cảm với chính sách Marketing: đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL rất nhạy cảm với chính sách marketing nên họ dễ dàng thay đổi nhà cung cấp dịch vụ khi sản phẩm cung cấp không tạo được sự khác biệt và không có tính cạnh tranh.
Các chính sách marketing của dịch vụ NHBL như: phí sử dụng dịch vụ, lãi suất huy động, lãi suất cho vay, các chương trình khuyến mãi, kênh phân phối dịch vụ…. Khách hàng dễ dàng từ bỏ ngân hàng có mức lãi suất thấp để giao dịch với ngân hàng khác có lãi suất cao hơn, hoặc do ngân hàng khác có các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, sản phẩm dịch vụ của họ khác biệt và có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ cũng góp phần quan trọng trong việc giữ chân khách hàng. Khi sự chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng không cao, sản phẩm dịch vụ đều như nhau thì chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc giữ khách hàng.
Khách hàng được quan tâm, được phục vụ tốt sẽ trở thành những khách hàng thân thiết với ngân hàng.