CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán buôn Theo các học giả Anh (David Cox, Shelagh Hefernan), Mỹ (Gorge H.Hempel, Linda Allen) thì vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ 20 ở Anh, với sự phát triển của các thị trường vốn bán buôn, các ngân hàng bắt đầu tham gia vào các thị trường này và thực hiện các khoản cho vay với số tiền đi vay được, mang lại sự phát triển của nghiệp vụ NHBB NHBB là thuật ngữ dùng để chỉ các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng lớn (Công ty) hoặc giao dịch với khoản tiền lớn (tiền gửi lên tới hàng trăm ngàn và cho vay tới hàng triệu đô la hoặc bảng Anh). Thuật ngữ bán buôn còn chỉ cả những giao dịch giữa các ngân hàng thực hiện qua thị trường liên ngân hàng tách biệt khỏi khách hàng - có thể hiểu là bán buôn “thật sự” trong ngôn ngữ thương mại.
Hoạt động NHBB ra đời gắn liền với sự phát triển của các thị trường bán buôn, sau đó phát triển theo sự phát triển của Ngân hàng đa quốc gia và được ứng dụng linh hoạt trong tài trợ phát triển quốc tế. Hoạt động ngân hàng bán buôn ra đời và được nói tới đầu tiên tại các quốc gia phát triển như Mỹ và châu Âu và dần dần được sử dụng trên phạm vi toàn thế giới. Khái niệm hoạt động ngân hàng bán buôn ra đời từ sự hình thành các thị trường tài chính bán buôn ở các nước phát triển, được phát triển trong quá trình toàn cầu hóa hoạt động ngân hàng và được áp dụng ngày càng nhiều trong tài trợ quốc tế. Tuy nhiên khái niệm hoạt động ngân hàng bán buôn lại không thống nhất với nhau trên toàn thế giới.
Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện của các thị trường mà người ta sử dụng khái niệm này với nội hàm không hoàn toàn giống nhau. 8 về khái niệm dịch vụ NHBB, tùy từng điều kiện phát triển tài chính quốc gia, người ta có những định nghĩa khác nhau: Tại Mỹ, hoạt động NHBB nghĩa là DVNH giữa NHTM (Merchant Bank) và các ĐCTC. Trong đó, Merchant Bank được định nghĩa là ngân hàng kinh doanh chủ yếu (nhưng không bị giới hạn bởi) là tài trợ thương mại quốc tế, cho vay dài hạn cho các công ty và bảo lãnh phát hành. Merchant bank không cung cấp các DVNH cho công chúng nói chung.
Ngân hàng ANZ (www.com) thì cho rằng hoạt động NHBB là vay và cho vay với số lượng lớn. Từ điển ngân hàng và tài chính Anh (Dictionary of Banking and Finance, P. Collin, Great Britain 1991) định nghĩa hoạt động NHBB là DVNH giữa ngân hàng tài trợ thương mại và các ĐCTC khác. Theo SAGA (www.vn) - dịch vụ NHBB là những DVNH cung cấp cho các doanh nghiệp các bản báo cáo tài chính hoàn hảo, và các khách hàng tổ chức, như quỹ lương hưu cũng như các cơ quan chính phủ.
Những dịch vụ bao gồm cho vay, quản lý tiền mặt, thế chấp thương mại, các khoản vay vốn lưu động, leasing, các dịch vụ ủy thác.Hầu hết các ngân hàng phân chia hoạt động NHBB thành các dịch vụ khác nhau tùy quy mô của doanh nghiệp: Thị trường cho các doanh nghiệp lớn (ví dụ ở Mỹ là thị trường dành cho các công ty thuộc xếp hạng Fortune 500 và Fortune 1.000), thị trường cho các doanh nghiệp vừa, và thị trường cho các doanh nghiệp nhỏ. Tại Việt Nam, trong vốn từ vựng tiếng Việt chỉ có khái niệm bán buôn tức là bán cho người kinh doanh trung gian, chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng, đối lại với bán lẻ là bán với số lượng ít và bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Khái niệm NHBB được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1996 khi Việt Nam tiếp nhận Dự án ODA từ Ngân hàng Thế giới - Dự án Tài chính Nông thôn. Theo đó, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm chức năng “NHBB của dự án” (Công văn số 5551/HĐQT ngày 2/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ).
Tiếp đó là trong Hiệp định tín dụng phát triển của Dự án Tài chính Nông thôn II, hai bên Việt Nam 9 và WB đã nhiều lần sử dụng khái niệm NHBB. Thủ tướng Chính phủ chấp thuận giao cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm NHBB nguồn vốn của Dự án. Cụ thể, trong Công văn số 285/QĐ - TTg ngày 18/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về quyết định đầu tư Dự án TCNT II giai đoạn II có ghi rõ “Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là NHBB của Dự án, chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện dự án theo đúng những quy định đã được thỏa thuận và thống nhất với WB”. Từ những khái niệm trên có thể đi đến kết luận về dịch vụ NHBB như sau: Dịch vụ NHBB là các dịch vụ được cung cấp cho đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp và các định chế tài chính.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán buôn - Dịch vụ NHBB được cung cấp bởi những ngân hàng có quy mô lớn, hoặc rất lớn: Các tiêu chí để xác định ngân hàng quy mô lớn gồm có: Vốn, tổng tài sản, hệ thống chi nhánh và số lượng lao động. Việc xác định quy mô ngân hàng còn tùy thuộc vào từng không gian cụ thể. Không có một chỉ tiêu định lượng chắc chắn để xác định quy mô của ngân hàng. Tùy vào đặc điểm của hệ thống ngân hàng của từng nước mà xây dựng tiêu chí để xác định quy mô.
- Dịch vụ NHBB hướng đến đối tượng là khách hàng lớn: Có thể nói đây là đặc điểm và là tiêu chí chính để phân biệt dịch vụ NHBB và NHBL. Dịch vụ NHBB nhằm vào các đối tượng sau: + Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ + Các TCTD khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính. + Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty có quy mô lớn. + Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ, nhất là những ngân hàng quy mô nhỏ, thường không đủ khả năng để huy động vốn cho hoạt động tín dụng của mình, những ngân hàng này sẽ thiếu vốn và đi vay các Ngân hàng lớn.
- Tín dụng là dịch vụ điển hình của dịch vụ NHBB: Các khoản tín dụng có giá trị lớn: Tuy thật khó để phân biệt đâu là giá trị lớn, đâu là giá trị nhỏ của giá trị tín dụng, nhưng có thể phân biệt qua phương pháp thống kê những khách hàng vay vốn lớn tại một ngân hàng, hoặc có thể phân biệt giá trị tín dụng lớn hay nhỏ qua 10 phân cấp phán xét giá trị tín dụng. Thông thường những khoản tín dụng vượt quá thẩm quyền phán xét của giám đốc chi nhánh (đối với ngân hàng vừa và nhỏ) hoặc vượt quá thẩm quyền phán xét của trưởng phòng tín dụng (đối với ngân hàng lớn) được coi là khoản tín dụng có giá trị lớn. Có quan điểm cho rằng nên lấy vốn tự có để so sánh, nếu khoản tín dụng chiếm tỷ lệ từ 5% vốn tự có trở lên, thì khoản tín dụng đó được coi là bán buôn. Các khoản tín dụng được thực hiện thông qua thị trường liên ngân hàng, hoặc được thực hiện trực tiếp giữa NHBB với các tổ chức tín dụng, hoặc được thực hiện theo hợp đồng tín dụng giữa NHBB với các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty,.
Lãi suất tín dụng (lãi suất cho vay) thường được vận dụng theo cơ chế ưu đãi, thấp hơn lãi suất thị trường NHBL. - Số lượng khách hàng nhỏ: So với khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp lớn là đối tượng khách hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn hơn về doanh số giao dịch. Thông thường đối với một ngân hàng vừa kinh doanh bán buôn và bán lẻ thì lượng khách hàng bán buôn chỉ chiếm từ 10% đến 30% tổng số khách hàng của ngân hàng đó. - Giá trị giao dịch lớn, chi phí bình quân trên mỗi giao dịch nhỏ: Với đặc điểm khách hàng là các tổ chức kinh tế đa dạng, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau nên nhu cầu rất lớn, giá trị giao dịch cao.
Do số lượng khách hàng nhỏ nên giao dịch với khách hàng của NHBB, ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế nhờ quy mô giao dịch. - Các DVNHBB thường có quy trình thực hiện phức tạp và mất nhiều thời gian, vì vậy đòi hỏi sự an toàn cũng như thận trọng trong các giao dịch, ví dụ như để có thể thực hiện nghiệp vụ tư vấn phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp, ngân hàng phải thẩm định phương án của khách hàng lâu hơn đối với thực hiện dịch vụ cho khách hàng cá nhân. - Thu nhập do khách hàng mang lại thường rất lớn: Với một tỷ trọng khách hàng nhỏ nhưng có thể mang lại thu nhập khá lớn cho ngân hàng. Chính vì vậy, rủi ro trong kinh doanh NHBB rất cao khi các khách hàng từ bỏ ngân hàng này để đến với một ngân hàng khác có điều kiện tốt hơn.
11 - Chi phí hoạt động trung bình thấp: DVNHBB thường không đòi hỏi phải trang bị nhiều về mạng lưới phân phối và nguồn nhân lực vì số lượng khách hàng ít hơn nhiều so với NHBL. - Độ rủi ro cao: Mức độ rủi ro của dịch vụ ngân hàng bán buôn thể hiện trên một số khía cạnh. Xuất phát từ đặc điểm đối tượng khách hàng là các tổ chức tham gia nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, có mối liên hệ với nhiều thành phần của nền kinh tế nên tạo ra khó khăn cho các NHTM khi xác thực các hoạt động của khách hàng. Bên cạnh đó, do các giao dịch có giá trị cao nên sự thay đổi NHTM cung cấp dịch vụ này sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của các NHTM, khiến các NHTM khó chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Thị trường: Do đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp và tổ chức lớn nên thị trường của dịch vụ ngân hàng bán buôn ít biến động. Thị trường này đã và đang được các NHTM khai thác trong thời gian dài. Hiện nay, khi nền kinh tế càng phát triển, sự bảo hòa của thị trường này đã và đang là vấn đề đặt ra, đòi hỏi các NHTM phải mở rộng đến các thị trường tiềm năng khác cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán buôn nhằm “giữ chân” các khách hàng truyền thống của DVNHBB.