CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KIỀU HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về dịch vụ kiều hối của NHTM 1. Khái niệm về kiều hối Dù được nhắc đến khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về kiều hối trong các văn bản pháp lý của Việt Nam. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa kiều hối “là hàng hoá và các công cụ tài chính do người lao động sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên chuyển về đất nước họ”.
Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới (WB) thì: “Kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từ nước ngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài, được thể hiện trong cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền (ròng)”. Lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đánh giá kiều hối là “một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại nguồn ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả”. Kiều hối đang ngày càng trở nên quan trọng đối với các nước đang phát triển, là nguồn tài chính ổn định và ít biến động ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, kiều hối không chỉ là nguồn thu nhập của thân nhân những người đang làm việc ở nước ngoài mà nó còn là nguồn động viên thiết thực đối với sự phát triển nền kinh t ế của Việt Nam.
Trong quyết định 170/1999/QĐ-TTg ngày 19/08/1999 của Thủ tướng Chính phủ có giải thích về kiều hối như sau: "Kiều hối là các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi được chuyển vào Việt Nam theo các hình thức sau: - Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép. 7 - Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế. - Cá nhân mang ngoại tệ theo người vào Việt Nam. Cá nhân ở nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam có mang theo ngoại tệ hộ cho người Việt Nam ở nước ngoài phải kê khai với Hải quan cửa khẩu số ngoại tệ mang từ nước ngoài về cho người thụ hưởng ở trong nước.
“ Theo Ngân Hàng Nhà Nước, khi xác định cán cân thanh toán vãng lai của một quốc gia, bên cạnh cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ còn một hạng mục cán cân di chuyển đơn phương (chuyển tiền ròng). Hạng mục này liệt kê các khoản di chuyển một chiều của ngoại hối từ các đối tượng cư trú ở nước ngoài chuyển vào Việt Nam. Đối tượng cư trú được xác định là những người nước ngoài hoặc người Việt Nam có thời gian làm việc, lao động ở nước ngoài trên 1 năm. Như vậy, đối tượng này sẽ bao gồm 2 nhóm (1) những người nước ngoài, chủ yếu là kiều bào ở nước ngoài và (2) người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài (phần lớn có thời hạn trên 1 năm).
Thực tế, theo các ngân hàng thương mại, chuyển tiền kiều hối cũng bao gồm tất cả các khoản ngoại tệ chuyển từ nước ngoài về Việt Nam của cả hai nhóm đối tượng trên. Như vậy có thể hiểu: “Kiều hối là dòng tài chính do cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài chuyển về Việt Nam”. Khái niệm dịch vụ kiều hối Dịch vụ kiều hối hay còn gọi là dịch vụ chi trả kiều hối là sản phẩm dịch vụ của các NHTM phát sinh trong quá trình thực hiện các ủy nhiệm của người sở hữu lượng kiều hối chuyển tiền ở nước ngoài để chuyển và trả tiền tới người hưởng trong nước với mục đích viện trợ, giúp đỡ và đầu tư không liên quan đến hàng hóa và dịch vụ. 8 Dịch vụ kiều hối có thể là dịch vụ chi trả tiền nội địa hoặc quốc tế.
Việc chi trả kiều hối nội địa diễn ra khi có sự di trú từ khu vực nông thôn ra thành thị. Còn việc chi trả kiều hối quốc tế chỉ diễn ra khi có sự di trú từ nuớc này sang nuớc khác. Tuy nhiên, mục đích của luận văn là tập trung vào dịch vụ chi trả kiều hối quốc tế. Theo ngân hàng Thế giới (WB;: "Dịch vụ chi trả kiều hối là dịch vụ thanh toán xuyên quốc gia từ cá nhân này đến cá nhân khác, với những món tiền có giá trị tương đối thấp".
Dịch vụ này chỉ diễn ra khi có sự di trú. Nhu vậy chi trả kiều hối có thể hiểu là dịch vụ chuyển tiền từ một cá nhân, là nguời không cu trú cho một cá nhân khác là nguời cu trú thuờng là thân nhân của họ, để giúp đỡ, hỗ trợ cũng nhu đầu tu cho chính nơi mà họ đã sinh ra. Cơ sở pháp lý về kiều hối tại Việt Nam Đảng và Nhà nuớc ta luôn nhất quán chủ truơng tạo mọi điều kiện thuận lợi thu hút nguồn lực kiều hối để xây dựng đất nuớc. Chính vì vậy, các chính sách quản lý ngoại hối đối với nguồn kiều hối luôn đuợc thực hiện theo huớng thông thoáng, phù hợp với xu thế hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nguời thụ huởng trong nuớc và các tổ chức tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ kiều hối.
Qua đó, khuyến khích nguời Việt Nam ở nuớc ngoài chuyển tiền về nuớc. Hiện nay, chính sách quản lý ngoại hối đối với kiều hối đuợc quy định cụ thể trong các văn bản sau: Ngày 31/08/1982, Hội đồng Bộ truởng ra Quyết định số 151/HĐBT quy định ‘‘về việc các gia đình có thân nhân định cư ở các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa nhận tiền, nhận hàng do thân nhân của họ gửi về”. Tại điều 1 Quyết định số 151/HĐBT quy định: “Nhà nước hoan nghênh và khuyến khích những người Việt Nam định cư ở những nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa gửi tiền về góp phần xây dựng đất nước. Các gia 9 đình có thân nhân ở nước ngoài được nhận tiền, nhận hàng của họ gửi về ” Tại điều 2 Quyết định số 151/HĐBT quy định: “Ngoại tệ gửi về qua Ngân hàng Nhà nước không bị hạn chế, được chuyển đổi ra đồng tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái hiện hành với một tỷ lệ tiền thưởng thỏa đáng do Ngân hàng Nhà nước quy định ”.
Ngoài ra, cũng tại điều 2 quy định: “Người nhận tiền kiều hối rút tiền ra bằng VND để chi dùng và đầu tư được khuyến khích, không hạn chế về số lượng”. Đây là quyết định đầu tiên khuyến khích nguời Việt Nam định cu ở nuớc ngoài gửi tiền về nuớc cho thân nhân chi dùng theo nhu cầu. Ngay sau khi Quyết định số 151/HĐBT ban hành, Bộ Ngoại Thuơng và Ngân hàng Nhà nuớc đã ban hành Thông tư liên bộ số 9/TTLB-NgT-NH ngày 31/01/1983 và Thông tư số 34/NH-TT ngày 10/02/1983 của Ngân hàng Nhà nuớc huớng dẫn thi hành Quyết định số 151/HĐBT. Tại hai thông tu này đã quy định cụ thể về việc gửi và nhận tiền của gia đình có nguời thân ở nuớc ngoài.
Trong đó, nhấn mạnh việc “không hạn chế số ngoại tệ gửi về, nhưng hạn chế rút tiền cho chi dùng cá nhân, khuyến khích rút tiền đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất sẽ không hạn chế về số lượng”. Ngoài ra, Nhà nuớc còn “khuyến khích người nhận tiền gửi vào Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa sẽ được thưởng thêm ngoài phần lãi suất được hưởng theo quy định ”. Nếu ký gửi ngoại tệ tại ngân hàng các cấp, nguời gửi tiền kiều hối sẽ đuợc mở tài khoản ngoại tệ theo chế độ của nguời không cu trú, đuợc miễn lệ phí mở tài khoản, đuợc huởng lãi suất bằng ngoại tệ do ngân hàng công bố và đuợc phép chuyển cả vốn lẫn lãi về nuớc hoặc chuyển cả vốn lẫn lãi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá có thuởng. Ngày 10/04/1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ truởng ra Quyết định 126-CT “Về việc sửa đổi, bổ sung chế độ nhận tiền và hàng do nguời việt nam định cu ở các nuớc ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa gửi về giúp gia đình”, theo đó: 10 “Người nhận khi có ngoại tệ gửi về qua các tổ chức Ngân hàng hoặc tổ chức do Ngân hàng uỷ nhiệm được phép: a) Rút ra bằng tiền Việt Nam theo tỷ giá kiều hối tại thời điểm rút ra và có thưởng.
b) Rút ra bằng ngoại tệ để mua hàng hoặc thanh toán tiền dịch vụ tại các cửa hàng bán hàng và làm dịch vụ ngoại tệ. c) Mở tài khoản tiền hoặc tiết kiệm bằng ngoại tệ tại Ngân hàng và có lãi bằng ngoại tệ để: - Rút ra một lần hoặc nhiều lần bất cứ lúc nào để thực hiện điểm a và b nói ở điều 2; - Rút vốn và lãi bằng ngoại tệ chuyển lại cho gia đình ở nước ngoài; - Rút vốn và lãi bằng ngoại tệ khi được phép xuất cảnh.” Ngoài ra, quyết định còn khuyến khích nguời Việt Nam định cu ở nuớc ngoài gửi tiền hoặc tu liệu sản xuất hoặc hàng tiêu dùng thiết yếu về nuớc thể hiện ở điểm: “Hàng gửi về (nhập khẩu phi mậu dịch), nếu không thuộc diện hàng cấm nhập hoặc nhập có điều kiện thì được nhận không hạn định về số lần, số lượng và trị giá; - Nếu là tư liệu sản xuất thì được giảm hoặc miên thuế hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch; - Nếu là hàng tiêu dùng thì phần vượt định mức miên thuế phải chịu thuế hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch.” Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nguời gửi tiền và hỗ trợ quản lý kiều hối theo chính sách, ngày 10/07/1987, Ban Việt Kiều Trung uơng đã ra Thông tư số 04/TT-VK nhằm “khuyến khích các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài hoặc người nước ngoài muốn đứng ra tổ chức hoạt động chuyển tiền, hàng do người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nguyện 11 vọng gửi về cho thân nhân trong nước ”. Thông tư này đã cho phép các cá nhân hoặc tổ chức đứng ra làm trung gian chuyển tiền cho người gửi và người nhận tiền kiều hối thay vì người gửi và người nhận chỉ giao dịch qua ngân hàng. Cá nhân hoặc tổ chức muốn làm đại lý chuyển tiền chỉ cần gửi đơn qua Ban Việt Kiều Trung ương để đăng ký xin phép Nhà nước.
Ngày 10/10/1987, Chỉ thị 292/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc thực hiện Chỉ thị 126/CT: “Nhà nước quy định NHNN có trách nhiệm nghiên cứu, điều chỉnh tỷ giá linh hoạt và kịp thời trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm tỷ lệ thưởng khuyến khích thích hợp.