CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ được định nghĩa theo nhiều ý kiến khác nhau: Adam Smith đã cho rằng: "Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công.
Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". Qua đó, ông muốn nói đến đặc tính "không tồn trữ được" của dịch vụ, tức là quá trình sản xuất và tiêu thụ không tách rời nhau. Mác thì cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Như vậy, khái niệm trên cho thấy C.
Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, dịch vụ sẽ ngày càng phát triển mạnh cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Ngày nay xã hội hiện đại càng nhận thức được vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế. Dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành học thuật khác từ văn học, luật học, kinh tế học đến khoa học quản lý. Dịch vụ có thể được mô tả như là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn ".
Trong kinh tế học, dịch vụ là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng phi vật chất, được coi là một trong ba ngành kinh tế bên cạnh ngành nông nghiệp và công nghiệp. 8 Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” (Philip Kotler (2015), Marketing căn bản, Nxb Thống kê). Thông qua những khái niệm được đưa ra từ nhiều lĩnh vực nêu trên, ta có thể tổng kết được khái niệm chung nhất về dịch vụ như sau: Dịch vụ là những hoạt động tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Trong cuốn “Quản trị Ngân hàng Thương Mại” của Peter S. Rose có đưa ra khái niệm Ngân hàng như sau: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính””. Bên cạnh thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm thì với vai trò là một trong 3 bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng hiện nay đang góp phần quan trọng trọng việc đáp ứng đa dạng các nhu cầu tài chính cho tất cả các đối tượng, thành phần kinh tế.
Ngân hàng ngoài những dịch vụ truyền thống như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán thì theo xu thế phát triển của kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát sinh phong phú như: tư vấn tài chính, bảo lãnh và cam kết, môi giới và kinh doanh tiền tệ, quản lý tài sản và danh mục đầu tư,. 9 Từ đó, dù chưa có một định nghĩa cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng nhưng ta có thể đưa ra khái niệm chung về dịch vụ ngân hàng như sau: “Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, được ngân hàng cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Khái niệm về dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Dịch vụ KHCN là một phần trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tập trung vào đối tượng cá nhân riêng lẻ và hộ gia đình thông qua hệ thống chi nhánh hoặc khách hàng có thể sử dụng dịch vụ thông qua các phương tiện CNTT. Cũng có thể hiểu dịch vụ khách hàng cá nhân của NHTM là những dịch vụ cung ứng những tiện ích ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng.
Đối tượng của dịch vụ KHCN do đó là vô cùng lớn bao gồm các cá nhân và hộ gia đình, phương tiện gắn liền với công nghệ cao và cho phép phục vụ tại nơi, mọi lúc và đa mục đích, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và CNTT. Một khách hàng sử dụng dịch vụ KHCN có thể một lúc sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng hiện đại. Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại 1. Đặc điểm cơ bản của dịch vụ Dịch vụ có một số đặc điểm cơ bản như sau: Tính vô hình : Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng sự cảm nhận về chất lượng, mức độ hài lòng sau khi sử dụng dịch vụ.
Tính đồng thời :Quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. Dịch vụ không thể tích lũy dự trữ và kiểm nghiệm trước được. Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ cung cấp cho mỗi khách hàng khác nhau có giá trị dịch vụ khác nhau vì nó phụ thuộc vào người cung ứng dịch vụ, thời gian, địa điểm cung ứng dịch vụ, tâm lý, nhu cầu của khách hàng. 10 Tính không thể dự trữ: Dịch vụ có tính chất không lưu giữ được.
Nếu vì một lý do nào đó mà người tiêu thụ dịch vụ không thể trực tiếp tiếp nhận dịch vụ được cung cấp thì dịch vụ đó không thể lưu giữ để sử dụng sau. Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại • Số lượng khách hàng lớn: Do đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình nên có đặc thù là số lượng rất lớn. Đây là đối tượng chiếm đa số trong cơ cấu khách hàng phổ biến của một ngân hàng thương mại. Khách hàng được chia ra nhiều phân khúc theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay mức độ thân thiết.
Với cùng một lượng đối tượng khách hàng nhưng trên mỗi phân khúc, các ngân hàng có thể phát triển nhiều dịch vụ đa dạng để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng nhóm đối tượng. • Giá trị giao dịch nhỏ, môi giao dịch có chi phí bình quân cao: Những giao dịch của cá nhân thường không mang giá trị lớn, mục đích chủ yếu cho nhu cầu cá nhân và gia đình như tiết kiệm, chi tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh nhỏ. Tuy nhiên đặc thù của dịch vụ khách hàng dành cho cá nhân là yêu cầu mạng lưới rộng khắp để có thể len lỏi tới từng ngóc ngách dân cư, đồng thời cần đầu tư vào phát triển CNTT hiện đại để đáp ứng nhanh chóng, thuận tiện những nhu cầu dù là nhỏ nhất của đối tượng cần phục vụ. Chi phí cho những yêu cầu trên là không hề nhỏ, mặc dù số lượng khách hàng cá nhân lớn tuy nhiên chi phí bình quân tính trên một khách hàng vẫn là tương đối cao so với đối tượng khách hàng bán buôn.
• Dịch vụ KHCN có lợi thế theo quy mô và phạm vi: Điều này có nghĩa là quy mô càng lớn, số lượng khách hàng tham gia càng nhiều thì chi phí bình quân càng thấp, tạo lợi thế cho ngân hàng và cắt giảm chi phí. • Tiến bộ công nghệ thông tin là ưu tiên và lợi thế cạnh tranh hàng đầu: Đặc thù của dịch vụ KHCN là đa dạng, tiện ích và hiện đại, đáp ứng hầu hết các nhu cầu tài chính của cá nhân từ gửi tiết kiệm, vay, thanh toán, 11 thẻ,. Hiện nay với kỹ thuật công nghệ hiện đại, chỉ cần một click chuột hay có trong tay điện thoại thông minh, khách hàng có thể gửi tiền, vay, thanh toán chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và rất nhiều các dịch vụ tiện ích khác một cách rất đơn giản. Nắm bắt đuợc nhu cầu đó, việc đầu tu cho công nghệ của ngân hàng hiện nay rất đuợc chú trọng khi đời sống và dân trí đối tuợng khách hàng này ngày càng cao, do đó đổi mới và sáng tạo là xu huớng tất yếu.
• Marketing đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển dịch vụ khách hàng cá nhân: Đối tuợng KHCN rất nhạy cảm với các chính sách marketing nên họ dễ dàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác khi không nhận thấy sự khác biệt và lợi ích gì trong sản phẩm dịch vụ mà mình đang sử dụng. Với đặc trung là tâm lý bầy đàn và đám đông, hình ảnh nhận diện và thuơng hiệu cũng nhu những chính sách marketing của một ngân hàng có tác động rất lớn đến xu huớng sử dụng của đối tuợng khách hàng này. Đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành, việc marketing đúng cách sẽ giúp ngân hàng tạo đuợc dấu ấn và thu hút sự lựa chọn dịch vụ từ đối tuợng khách hàng. • Mức độ rủi ro thấp: Nếu so với khách hàng doanh nghiệp và định chế tài chính thì đối tuợng khách hàng cá nhân với giá trị giao dịch không lớn sẽ giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Đồng thời doanh thu từ mảng khách hàng này khá ổn định và an toàn đối với ngân hàng. Các dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Dịch vụ nhận tiền gửi • Tiền gửi thanh toán Đây là hình thức huy động vốn thông qua việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng. Tài khoản thanh toán có chức năng phục vụ nhu cầu thanh toán, nộp rút tiền mặt, chuyển khoản cho khách hàng với đặc tính là 12 luồng tiền ra vào một cách linh hoạt.
Lãi suất chi trả cho loại tiền gửi này rất thấp, thông thuờng là lãi suất không kỳ hạn và thuờng đuợc duy trì với số du tài khoản không lớn, tuy nhiên với số luợng khách hàng đông đảo thì tổng luợng tiền gửi ngân hàng huy động đuợc không hề nhỏ.