CHƯƠNG 1: Trong tất cả các < 500 CƠhoặc SỞ<LÝ LUẬN Không VỀquan PHÁTtrọng TRIỂNKhông CHO quan VAY ĐỐI VỚI ngành 1.000 DOANH NGHIỆP trọng THƯƠNG MẠI NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP Không quan NHỎ VÀ VỪA Bán lẻ <50 Doanh nghiệp 1. Khái niệm < 10nhỏ tri ệuvàyên vừa trọng Bán buôn < thế 1. Trên 100giới < 100 triệu yên Dịch vụ Khái <niệm 100 doanh nghiệp < 50nhỏ triệu vàyên vừa (Small and Medium Enterprises- Các ngành sản < 300 SMEs) không < 300quốc giống nhau ở từng triệugia, yên từng khu vực trên thế giới do điều kiện và trình độ phát triển của các nước khác nhau.
Nhưng nhìn chung, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đều sử dụng những tiêu thức có định lượng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước trong thời kỳ phát triển, chính vì vậy khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa thường được thay đổi và ít được dùng như một định nghĩa mang tính học thuật, có tính chất bắt buộc và tồn tại lâu dài. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng trên thế giới xuất 3. Các nước < 27 triệu6Euro EU < 250 < 40 triệu euro 4. Australia Công nghiệp Không quan Không quan trọng dịch vụ trọng < 500 Các ngành khác < 300 5.
Hàn Quốc Công nghiệp xây dựng < 1,4 triệu USD < 300 < 0,6 triệu USD Thương mại dịch vụ < 50 < 0,25 triệu USD 6. Thái Lan Sản xuất < 200 triệu baht Bán buôn < 100 triệu baht Bán lẻ < 60 triệu baht 1. Ở Việt nam Định nghĩa DNNVV ở Việt Nam lần đầu tiên được đưa ra bởi “Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998”. Theo đó DNNVV là các doanh nghiệp có số lao động dưới 200 người và nguồn vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng.
Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Tiếp sau đó gần đây theo “Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH4” đã đưa ra chính thức khái niệm DNNNV như sau: “doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Lĩnh vực Doanh nghiệp vừa Doanh nghiệp nhỏ hoạt động 7 Nông nghiệp, Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH - Tổng bình quânnguồn vốn năm: từ không >10 - 100quábình 100 tỷ đồngnăm: từ >100 - quân lâm nghiệp, - Tổng doanh thu của năm truớc nguời 200 liền nguờikề không quá 300 tỷ đồng thủy sản, công Xác định Tổng doanhquy thu mô doanhtừnghiệp của năm: Tổngcần dựathu doanh vàocủa lĩnh vựctừhoạt động của năm: nghiệp, xây doanh >3nghiệp. - 50 tỷ Cụ thể,hoặc đồng theotổng Nghị định >5039/2018/NĐ-CP quy định: - 200 tỷ đồng hoặc tổng dựng Bảng nguồn1. Tiêu chí- 20 từ >3 xáctỷđịnh doanh nguồnnghiệp vốn: từnhỏ >20và- vừa 100tại tỷ Việt Nam đồng.
Thuơng mại, Số lao động tham gia BHXH Số lao động tham gia BHXH dịch vụ bình quân năm: từ >10 - 50 bình quân năm: từ >50 - 100 nguời nguời Tổng doanh thu của năm: từ Tổng doanh thu của năm: từ >10 - 100 tỷ đồng hoặc tổng >100 - 300 tỷ đồng hoặc nguồn vốn: từ >3 - 50 tỷ tổng nguồn vốn: từ >50 - đồng. Đặc điêm của doanh nghiệp nhỏ và vừa a. về khả năng tài chính'. Vấn đề về vốn luôn là một trong những trở ngại lớn nhất đối với sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Mặc dù có sự tăng truởng nhanh về số luợng nhung nếu xét về quy mô vốn của 8 các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại rất thấp và sự tăng trưởng không cao.Nguồn vốn của DNNVV hiện nay chủ yếu vốn tự có, hoặc đến từ việc đi vay mượn của người thân, từ các tổ chức tín dụng và phi tín dụng khác thường là trong nước. Do đó nhìn chung những loại hình doanh nghiệp này thì thường có quy mô rất hạn chế. Nguồn vốn chủ yếu của các doanh nghiệp này thường tồn tại dưới dạng hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu và chỉ có một số ít là tồn tại dưới dạng tiền mặt. Vốn chủ sở hữu thấp, năng lực tài chính chưa cao nên nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thương mại.
Một số ngân hàng vẫn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là khu vực tiềm năng nhưng chứa đựng nhiều rủi ro. Muốn vay được vốn từ các ngân hàng thương mại thì doanh nghiệp phải tạo lập được dự án đầu tư có tính khả thi cao, tuy nhiên do trình độ , khả năng quản lý cũng như khả năng dự báo trước những biến động của ngành, của nền kinh tế còn kém nên không ít những dự án kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp ứng được yêu cầu của các ngân hàng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này thường gặp nhiều khó khăn về thủ tục xin vay vốn, tài sản đảm bảo, thế chấp. Còn việc huy động vốn trên thị trường tài chính cũng gặp rất nhiều khó khăn do uy tín của các doanh nghiệp còn thấp.
Một hạn chế khác là với năng lực tài chính thấp như vây, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có khả năng đầu tư mua sắm trang thiết bị máy móc, hiện đại hóa quy trình công nghệ, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có một lợi thế, đó là để thành lập được một doanh nghiệp lớn thì vô cùng khó khăn, phải có số vốn đầu tư ban đầu rất lớn nhưng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì ngược lại, các doanh nghiệp này được tạo lập một cách tương đối đơn giản với số vốn đầu tư ban đầu ít, mặt bằng sản xuất kinh doanh nhỏ. Hơn thế nữa, chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này thường ngắn làm cho vòng quay của mối đồng vốn nhanh, do đó hiệu quả kinh tế thu được thường cao hơn so với các doanh nghiệp 9 lớn. về nguồn nhân lực.
Do hoạt động của các DNNVV thường sẽ tập trung chủ yếu ở những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đến nhu cầu đời sống của con người, tiêu dùng và các sản phẩm truyền thống như chế biến thủy sản, cung cấp lương thực thực phẩm, dệt may , đồ gia công mỹ nghệ. Do đó, nên các doanh nghiệp này thường sử dụng nguồn lao động giản đơn từ lao động thủ công đến lao động có tay nghề và cả những lao động có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên thì trình độ lao động thấp vẫn chiếm đa số gây rât nhiều khó khăn trong việc quản lý và sử dụng lao động cũng như ảnh hưởng đến việc kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, do quy mô nhỏ đem lại giá trị thấp, môi trường làm việc không chuyên nghiệp, khiến các doanh nghiệp khó có khả năng thu hút lao động có trình độ cao.
Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành từ các hộ kinh doanh cá thể, hay một nhóm người có quan hệ gia đình, bạn bè cùng góp vốn lập nên cũng là một nguyên nhân khiến cho tính chọn lọc nguồn nhân lực là không cao, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Về đội ngũ cán bộ quản lý thì rất nhiều doanh nghiệp còn thiếu và hạn chế về trình độ so với yêu cầu, phần lớn là không được đào tạo một cách bài bản về kinh doanh chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm sống của bản thân, vì vậy việc hoạch định chiến lược và tầm nhìn trong dài hạn còn kém. Bên cạnh đó thì các chính sách đãi ngộ cho các cán bộ cấp cao là thấp do đó các DNNVV thường không thu hút được nguồn nhân lực giỏi. về tính phụ thuộc hay bị động: Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bị thụ động nhiều hơn trên thị trường.
Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ là rất nhỏ. Nguy cơ các DNNVV bị bỏ rơi là rất lớn, phó mặc được minh chứng bằng con số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Chẳng hạn ở Mỹ, bình quân mỗi ngày có tới 100 doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản nói 10 cách khác thì DNNVV có tuổi thọ trung bình thấp. về tính minh bạch của thông tin tài chính: Khi nói đến tính minh bạch trong thông tin tài chính là việc báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải đuợc lập theo đúng quy định, chuẩn mực kế toán- tài chính, phải đuợc công bố định kỳ và đuợc kiểm toán.
Tuy nhiên do một số hạn chế về mặt nhân sự cũng nhu cơ cấu tổ chức nên nhiều báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đuợc lập khá sơ sài. Chủ doanh nghiệp có thể không có chuyên môn về kế toán tài chính nên không kiểm tra đuợc tính đúng đắn của báo cáo. Các DNNVV hầu hết đều chua đuợc niêm yết trên sàn chứng khoán nên việc công bố thông tin tài chính không đuợc thực hiện, không thuê công ty kiểm toán độc lập. Mặt khác việc lách thuế bằng cách giảm doanh thu tăng chi phí giảm lợi nhuận trong báo cáo kinh doanh là khá phổ biến hiện nay.
Việc công bố thông tin tài chính của công ty một cách minh bạch sẽ giúp chủ doanh nghiệp thấy đuợc những hạn chế trong hoạt động kinh doanh, tìm ra đuợc những bất cập trong việc luân chuyển dòng tiền của doanh nghiệp đó từ đó có giải pháp khắc phục. về công nghệ: Trình độ công nghệ có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp sở hữu công nghệ tốt, hiện đại sẽ giúp năng suất lao động đuợc nâng cao, sản phẩm sản xuất ra có chất luợng tốt với chi phí phù hợp, đáp ứng nhu cầu của nguời tiêu dùn, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nguợc lại công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới sẽ hạn chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp, hạ thấp số luợng cũng nhu chất luợng sản phẩm sản xuất ra, làm tăng chi phí và gây ra những tiêu cực đối với môi truờng, hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các DNNVV thuờng có quy mô vốn nhỏ nên không có đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ hệ thống trang thiết bị, máy móc đặc biệt là các công nghệ cao, hiện đại nên hiện nay thuờng phải 11 chọn phương án mỗi kì sẽ đầu tư một món để cải tiến dấn.