LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Nuôi bò lấy sữa ở nƣớc ta đƣợc khởi nguồn bởi những di dân ngƣời Ấn Độ từ năm 1920 thông qua việc du nhập các giống bò Zebu (Ongol, Sindhi, Sahiwal,.) vào miền Nam nƣớc ta để lao động tại các đồn điền, qua đó tự cung cấp sữa cho bản thân và cung cấp cho các gia đình ngƣời Pháp (Đinh Văn Cải, Vƣơng Ngọc Long, 2003). Trải qua 100 năm kể từ khi du nhập đến nay, chăn nuôi bò sữa ở nƣớc ta đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông hộ, cung cấp sản phẩm sữa có giá trị dinh dƣỡng cao đối với sức khoẻ con ngƣời. Tuy khởi nguồn từ năm 1920, nhƣng chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh mẽ nhất sau khi có quyết định số 167/2001/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ ngày 26/10/2001 về một số biện pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010, từ đó đến nay, các địa phƣơng trong cả nƣớc đã tích cực triển khai, thực hiện chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa của Chính phủ và đạt đƣợc nhiều thành tựu lớn.
Tính đến năm 2018, thống kê đàn bò sữa của cả nƣớc có 294 ngàn con với sản lƣởng sữa đạt 936 nghìn tấn sữa/năm, giá trị kinh tế đạt gần 13.000 tỷ đồng, dự kiến năm 2020, nƣớc ta sẽ có 405.000 con bò sữa cho sản lƣợng gần 1,2 triệu tấn sữa tƣơi/năm, giá trị đạt hơn 16.000 nghìn tỷ đồng; phân bổ tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Bộ (33,35%), Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung (25,69%), Đồng bằng sông Cửu Long (12,22%), Trung du và miền núi phía Bắc (10,88%), Đồng bằng sông Hồng (9,74%) và Tây Nguyên (8,12%) (Cục Chăn nuôi, 2020, tr. Theo đánh giá và dự báo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc về sản phẩm của gia súc ăn cỏ đang ngày càng tăng cao, đồng thời biến đổi khí hậu đang ngày một khốc liệt theo hƣớng hạn hán nên tƣơng lai không thể duy trì đất trông lúa và ngô nhƣ hiện nay, song lại tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cánh đồng cỏ giúp cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào để chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc. 2 Hà Nam – một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, có điều kiện khá thuận lợi trong chăn nuôi bò sữa, trƣớc những lợi ích chăn nuôi bò sữa mang lại cho địa phƣơng cùng với đó là xu hƣớng tiêu dùng trong nƣớc, tiềm năng phát triển chăn nuôi bò sữa, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã có quyết định số 1600/QĐ-UBND ngày 12/10/2016 về việc phê duyệt Đề án phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 – 2020. Kể từ khi có quyết định số 1600 của Uỷ ban nhân tỉnh Hà Nam đến nay, chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã có những tăng trƣởng về số lƣợng bò sữa, sản lƣợng sữa sản xuất và tiêu thụ/năm, số lƣợng đơn vị chăn nuôi bò sữa cũng nhƣ hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa mang lại cho địa phƣơng.
Tính đến hết tháng 8/2020, cả tỉnh có 195 trại bò, chăn nuôi 3.900 con bò và bê sữa, sản lƣợng sữa bán cho các nhà máy là 36,4 tấn/ngày, giá trị kinh tế đạt hơn 160 tỷ đồng, thu nhập của ngƣời chăn nuôi từng bƣớc đƣợc cải thiện qua đó góp phần nâng cao giá trị và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hƣớng giảm tỷ trọng trồng trọt – lâm nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi – thủy sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tự đạt đƣợc trên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhƣ số lƣợng bò sữa trên địa bàn mới đạt đƣợc 67% so với kế hoạch dự kiến đề ra; tỷ lệ giống bò sữa cao sản có năng suất cao vẫn còn thấp; tỷ lệ thụ tinh cho bò đạt tỷ lệ thấp làm tăng chi phí cho việc duy trì đàn bò, hay vẫn còn nhiều đơn vị chăn nuôi có quy mô nhỏ, sản xuất đơn lẻ, số lƣợng đơn vị chăn nuôi theo quy mô lớn chăn nuôi theo mô hình nhóm hộ hay trang trại vẫn còn ở mức thấp, chƣa có doanh nghiệp nào triển khai chăn nuôi bò sữa trên địa bàn; sản lƣợng sữa tiêu thụ phụ thuộc lớn vào việc thu mua của các nhà máy sản xuất sữa trên địa bàn. Chính vì thế mà việc phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh vẫn chƣa đạt kết quả nhƣ mong đợi, thiếu tính bền vững, đồng thời việc áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ vào trong chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh chƣa cao, công tác xử lý môi trƣờng của các hộ chăn nuôi chƣa hiệu quả gây ô nhiễm ra môi trƣờng xung quanh. 3 Tử những vấn đề đƣợc nêu trên, học viên tiến hành lựa chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài “Phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh Hà Nam” với mong muốn góp phần nhỏ giúp tỉnh Hà Nam đƣa ra kế hoạch cùng với giải pháp thực hiện nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới phát triển mạnh, hiệu quả và bền vững nhƣ mục tiêu đề ra.
Tổng quan nghiên cứu của đề tài: Kể từ khi việc chăn nuôi bò sữa đƣợc chú trọng phát triển đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đề chăn nuôi bò sữa, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật sau: - Bùi Thị Thanh Huyền (2019), Luận văn Tiến sĩ “Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp các tỉnh ven biển Nam Đồng bằng sông Hồngtheo hướng phát triển bền vững”, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân: luận văn đã chỉ ra chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng phát triển bền vững là yếu tố có tác động tích cực đến các trụ cột khác trong phát triển nông nghiệp bền vững. Luận văn cũng chỉ ra những hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, đồng thời khẳng định liên kết yếu trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân dẫn đến tốc độ chuyển dịch chậm và thiếu định hƣớng trong chuyển dịch cơ cấu ngành. Qua đó, luận văn đã đề xuất 5 quan điểm, 4 định hƣớng và các giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong thời gian tới theo hƣớng phát triển bền vững. - Đinh Văn Cải (2009), Đề tài “Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam”: công trình nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc việc lựa chọn con giống ban đầu để duy trì và phát triển đàn bò sữa là vô cùng quan trọng.
Đề tài nghiên cứu cũng chỉ ra giống bò cao sản cho năng suất sữa cao, tuy nhiên đòi hỏi một chế độ ăn có cỏ họ đậu, cỏ khô, cỏ ủ chất lƣợng cao, do đó nếu không giải đƣợc bài toán chất lƣợng thức ăn thì nên lựa chọn phƣơng án nuôi giống bò HF bằng nguồn thức ăn hiện có vì mục tiêu cuối cùng phải là hiệu quả sản xuất sữa. - Nguyễn Trung Đông cùng các công sự tại Trƣờng cán bộ quả lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (2015 – 2016), Đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình, 4 chính sách và giải pháp phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi ở Việt Nam”: đề tài nghiên cứu đã chỉ ra giải các pháp giúp tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi một cách ổn định bền vững bào gồm (1) Hoàn thiện chính sách tín dụng thúc đẩy HTLK sản xuất - tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi; (2) Hoàn thiện chính sách về đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tƣ vào sản xuất - kinh doanh phục vụ liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản; (3) Hoàn thiện chính sách thúc đẩy các tác nhân tham gia liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản; (4) Nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia vào mô hình hợp tác liên kết,. - Nguyễn Ngọc Xuân (2015), Luận văn Tiến sĩ “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn theo quy trình VietGAHP tại Thành phố Hà Nội”, Học viện Nông nghiệp Việt Nam: đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về thực hành chăn nuôi tốt cho lơn an toàn (VietGAHP), khẳng định phát triển chăn nuôi lợn theo quy trình ViẹtGAHP là một xu hƣớng tất yếu và bền vững, góp phần nâng cấp và hoàn thiện chuôi giá trị ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Qua các phân tích đánh giá thực trạng tình hình chăn nuôi lợn theo tiêu chuẩn VietGAHP trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã xác định rõ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức ảnh hƣởng đến phát triển chăn nuôi lợn theo quy rình VietGAHP, đồng thời qua đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn theo quy trình VietGAHP một cách hiệu quả, bền vững tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
- Trƣơng La, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI (2018), Đề tài “Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong việc phát triển chăn nuôi bò sữa tại Lâm Đồng”: đề tài nghiên cứu đã chỉ ra mô hình chăn nuôi áp dụng những công nghệ mới về thức ăn và phƣơng thức vắt sữa phù hợp với việc chuyển dịch sang chăn nuôi các giống bò sữa cao sản, qua đó giúp việc chăn nuôi bò sữa đạt đƣợc những lợi ích kinh tế cao hơn trong chăn nuôi. - Nguyễn Trung Đông cùng các công sự tại Trƣờng cán bộ quả lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (2015 – 2016), Đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình, chính sách và giải pháp phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm ngành 5 chăn nuôi ở Việt Nam”: đề tài nghiên cứu đã chỉ ra giải các pháp giúp tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi một cách ổn định bền vững bào gồm (1) Hoàn thiện chính sách tín dụng thúc đẩy HTLK sản xuất - tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi; (2) Hoàn thiện chính sách về đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tƣ vào sản xuất - kinh doanh phục vụ liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản; (3) Hoàn thiện chính sách thúc đẩy các tác nhân tham gia liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản; (4) Nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia vào mô hình hợp tác liên kết,.