phần mở đầu, kết luận, Luận vần gồm có 3 chương như sau: - Chuong I: Khải quất về doanh nghiệp vừa và nhà -_ Chương 2: Pháp luật về khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam -_ Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. # 3% PHAN MO DAU 1. _ Tính cấp thiết của đề tài: Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, DNVVN đồng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Theo thống kê, trung bình tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Nhật, DNVVN chiếm tỷ lệ từ 90 - 99% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 50% GDP, 40 - 50% kim ngạch xuất khẩu; số người làm việc trong các doanh nghiệp này chiếm từ 50 - 80% tổng số lao động xã hội.
Ở khu vực Châu Á - Thái bình dương có tới 96% số daanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ, thu hút khoảng 60% lực lượng lao động toàn xã hội, các doanh nghiệp này đã trở thành một bộ phận hợp thành sức sống kinh tế sôi động của khu vực, đặc biệt về mặt tạo việc làm và mở rộng xuất khẩu#5-31, Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới rất coi trọng hoạt động của loại doanh nghiệp này, mà trước hết là tạo điểu kiện pháp lý thuận lợi cho chúng phát triển. Ví dụ, Nhật bản có Luật doanh nghiệp nhỏ (1963), Mỹ có Luật Doanh nghiệp nhỏ (1953), Hàn Quốc có tới 12 đạo luật về DNVVN,. Ở Việt nam, sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nên kinh tế nước ta đã có những chuyển biến to lớn. Hiện nay, số lượng các doanh nghiệp trong cả nước đã tăng lên nhanh chóng, nhất là DNVVN.
Các doanh nghiệp này đang giữ một vai trò rất quan trọng trong nén kinh tế như tạo thêm nhiều việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Khu vực DNVVN hiện nay thu hút khoảng 24% lực lượng lao động cả nước - khoảng 8,2 tri¢u người, đóng góp khoảng 26% GDP,' với lợi thế là chỉ phí đầu tư không lớn, dễ thích ứng với sự biến đổi của thị trường, phò hợp với trình độ quản lý kinh doanh của phần lớn chủ doanh nghiệp ở nước ta. Hiện nay, Đảng và Nhà nước thực hiện chủ trương phát huy nội lực, khắc phục sự giảm sút kinh tế, thì việc phát huy khả năng tơ lớn của DNVVN lại càng có ý nghĩa quan trong, Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm hỗ trợ và kích thích sự phát triển của DNVVN. Nghị quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Trong việc phát triển mới, ưu tiên gui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, lạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh."® %1, Theo tình ' Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tờ trình số 4004/BIKH-CN ngày 29/6/2000.
CHƯƠNG 1 KHAI QUAT VE DOANH NGHIEP VUA VA NHO 1.1 KHÁI NIỆM DOANH NGHIEP VỪA VÀ NHỎ. Khi nói đến DNVVN, với nhận thức đơn giản nhất, người la có ý nói và hiển ngay đó là những đoanh nghiệp có qui mô sản xuất kinh đoanh tương đổi nhở. Điều này có nghĩa là DNVVN không phải là một loại hình tổ chức doanh nghiệp cụ thể bên cạnh những loại hình khác như Công ty hay Doanh nghiệp tư nhân. mà là nhóm những doanh nghiệp được coi là vừa và nhỏ dựa trên những căn cứ nhất định.
Da đó, vấn đề đầu tiên cần được quan tâm là xác định. tiêu chí để nhận dạng tính chất "vừa và nhỏ” của một doanh nghiệp. Việc đưa ra khái niệm chính xác về DNVVN có ý nghĩa lớn để xác định đúng đối tượng được khuyến khích và hỗ trợ. Vì vậy, hầu hết các nước đều chú trọng nghiên cứu các tiêu chí xác định DNVVN.
Nhìn một cách tổng quát, có hai nhóm tiêu chí phổ biến dùng để xác định DMVVN là: nhóm tiêu chí định tính và nhóm tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chi dinh tính dựa trên những dặc trưng cơ bản của các DNVVN như: không có vị thể độc quyền, trình độ chuyên món hoá thấp, số. đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiếu chí này có đặc điểm là phản ánh đúng bản chất của vấn để, nhưng trên thực tế lại thường tất khó xác định.
Do vậy, mà thông thường chỉ được coi là cơ sở để tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng dé phân loại trong thực tế, Nhóm tiêu chí định lượng bao gồm các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận, Trong đó: = Số lao động có thể là lao động thường xuyên, lao động thực tế, ~ Thi sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (hay vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; ~_ Đoanh thu có thể là tổng doanh thu/ năm, tổng giá trị gia tăng/ năm. Các tiêu chí này được sử đựng phố biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở các nước thuộc Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á -Thái bình đương (APEC), tiêu chí phân loại DNVVN được sử dụng nhiều nhất [a tiêu chi số lao động (12/12 nước). Một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điểu kiện của từng nước.
Việt nam " của trung tâm kinh tế Châu A - Thái bình dương, "Đổi mới cơ chế quản lý DNVVN trong nên kính tế thị trường ở Việt nam" của Pts.Nguyễn Hữu Hải; "Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt nam" do PGS.TS Nguyễn Cúc làm chủ biên với sự tài trợ của Viện Friedrich Ebert Cộng hoà liên bang Đức; "Doanh nghiệp nhỏ ở Việt nam” do Bộ Lao động Thương bình và Xã hội thực hiện với sự tài trợ của cơ quan phát triển quốc tế Thuy điển và trường kinh tế Stockhoim., Trong thời gian gần đây, vấn để hô trợ DNVVN ở Việt nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Vì thế, nhiều hội thảo khoa học và dự án đã bước đầu được tiến hành để nghiên cứu về DNVVN ở Việt nam, như: Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt nam và Hà lan (VNRP) về "Phát triển DNVVN ở nông thôn trong quá trình công nghiện hod và chuyển sang nên kinh tế thị trường", Dé án “ Định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNVVN" do Bộ Kế hoạch và Đâu tư chủ trì; “Hội thảo quốc gia về chỉnh sách và biện pháp hỗ trợ DNVVN” do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức, Các hội thảo bàn về thực trang va dé xuất các chính sách, biện pháp hỗ trợ DNVVN đo Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam tổ chức tại các địa phương. Ngoài ra, nhiều hội thảo khác cũng được tổ chức bởi các cơ quan, tổ chức trong nước với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như "Hi thảo về chính sách, pháp luật và một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh" của Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ pháp lý (LERES) thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà nội với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về việc điều chỉnh pháp luật đối với DNVVN ở Việt nam trong thời kỳ đổi mới.
Vì vậy, việc nghiên cứu về DNVVN ở Việt nam dưới góc độ pháp lý nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh sao cho phù hợp là vấn để cấp bách, Đây cũng chính là nội đung mới mà dé tài này mong muốn được đóng góp vào việc phát triển DNVVN ở Việt nam. Mục đích và phạm vi nghiên cứu: "Trên cơ sở chủ trương ưu tiên phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước, cũng như từ thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp trong thời kỳ đổi mới, mục đích của Luận văn là làm sáng tổ quan niệm về DNVVN, nghiên cứu thực trạng pháp luật điểu chỉnh hoạt động của DNVVN, qua đó đưa ra các kiến nghị nhằm tạo lập môi trường pháp thuận lợi cho các doanh nghiệp này. “Thực hiện mục dích nghiên cứu nêu trên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý đối với DNVVN trong khu vực phi nông nghiệp. Cụ thể là các DNVVN đáp ứng các điều kiện là tổ chức sẵn xuất kinh doanh đăng ký theo pháp luật hiện hành, có vốn đẳng ký kính doanh không quá 5 tỷ đẳng và số Íao động thường xuyên trung bình hàng năm không quá 200 người, bao gôm: (Ù Doanh nghiệp Nhà nước thành lập và đăng ký theo Luật doanh nghiệp Nhà nước; (ii) Các doanh nghiệp đảng kÿ theo Luật doanh nghiệp; {H) Các Hạp tác xã thành lập và đăng ký theo Luật Hợp tác xã, (iv) Các Hộ kinh doanh cá thể đăng kỹ theo Nghị định 02120001NĐ-CP ngày 3.2000 của Chính phú.
Bên cạnh đó, để tài cũng giới hạn việc nghiên cứu DNVVN tập trung chủ yếu trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở Việt nam (Từ năm 1986 đến nay). 4, Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Luận văn vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận của kinh tế chính trị Mác - Lênin, của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật trong nghiên cứu. Trong đó, Luận văn đặc biệt chú ý đến việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
trong quá trình lý giải các vấn đề đặt ra, 5. Những đóng gúp mới về mặt khoa học của Luận văn: Phù hợp với mục đích và phạm ví nghiên cứu nêu trên, những đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn được thể hiện ở hai nội dụng cơ bản sau: Thứ nhất, làm rõ các tiêu chí khoa hoc dé xác định DNVVN. Đồng thời đưa ra một định nghĩa về DNVVN ở Việt Nam hiện nay với một phạm vì các dối tượng áp dụng cụ thể. thân đó, việc khuyén khich DNVVN được chú ý trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật và các chính sách có liên quan, thể hiện rõ nhất trong Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, Nghị định 66/HĐBT, Luật DNNN, Luật Hợp tác xã, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Thương, mại, Luật doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, để khuyến khích DNVVN phát triển, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã thành lập uỷ ban về DNVVN.