Phân tích hoạt động kê đơn, cấp phát thuốc ngoại trú tại BVĐK Hà Tĩnh 2018

Phân tích hoạt động kê đơn, cấp phát thuốc ngoại trú tại BVĐK Hà Tĩnh năm 2018. Luận văn đánh giá thực trạng, các chỉ số và yếu tố ảnh hưởng.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2019

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và quy định về kê đơn cấp phát thuốc ngoại trú

Kê đơn và cấp phát thuốc ngoại trú là những hoạt động quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là trong các bệnh viện đa khoa. Kê đơn là hành động của bác sĩ quy định loại thuốc, liều lượng, cách dùng và thời gian sử dụng cho bệnh nhân. Cấp phát thuốc là quá trình dược sĩ kiểm tra, xác nhận và phát hành thuốc theo đơn kê. Các quy định về kê đơn cấp phát thuốc được đặt ra bởi Bộ Y tế để đảm bảo tính hợp lý, an toàn và hiệu quả trong sử dụng thuốc. Những quy định này bao gồm các tiêu chuẩn về phối hợp thuốc, chống chỉ định, tương tác thuốc và các chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động kê đơn cấp phát thuốc.

1.1. Định nghĩa kê đơn và cấp phát thuốc

Kê đơn là một tài liệu chính thức được bác sĩ lập ra, ghi rõ tên thuốc, liều lượng, cách dùng và hướng dẫn cho bệnh nhân. Cấp phát thuốc là quá trình dược sĩ nhận đơn kê, kiểm tra độ chính xác, tính hợp lý và chuẩn bị thuốc cho bệnh nhân. Hai hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ, đòi hỏi sự hợp tác giữa bác sĩ, dược sĩ và nhân viên y tế.

1.2. Những quy định pháp luật liên quan

Bộ Y tế đã ban hành nhiều quyết định, thông tư liên quan đến kê đơn cấp phát thuốc BHYT. Những quy định này yêu cầu tuân thủ danh mục thuốc thiết yếu (EDL), hạn chế sử dụng kháng sinh không hợp lý, và đảm bảo an toàn tương tác thuốc. Bệnh viện đa khoa phải xây dựng quy trình cấp phát thuốc rõ ràng, minh bạch và có hệ thống giám sát.

II. Thực trạng kê đơn và cấp phát thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa

Thực trạng kê đơn cấp phát thuốc ngoại trú tại các bệnh viện đa khoa cho thấy nhiều tồn tại cần được cải thiện. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh năm 2018, tỷ lệ kê đơn hợp lý còn thấp, đặc biệt là trong việc sử dụng kháng sinhthuốc tiêm. Hoạt động cấp phát thuốc gặp phải những thách thức như thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ và nhu cầu đào tạo thêm cho nhân viên. Chi phí thuốc trên mỗi đơn vẫn cao, phản ánh việc kê đơn không tuân thủ danh mục thuốc BHYT. Cần có các biện pháp can thiệp để nâng cao chất lượng kê đơn và cấp phát thuốc tại các bệnh viện.

2.1. Thực trạng hoạt động kê đơn tại bệnh viện

Kê đơn thuốc tại các bệnh viện đa khoa thường có xu hướng kê nhiều loại thuốc cùng lúc, với chi phí thuốc/đơn cao hơn mức trung bình. Tỷ lệ kê kháng sinh vẫn ở mức cao, không tuân thủ đầy đủ hướng dẫn sử dụng hợp lý. Sự kiểm tra, giám sát từ bộ phận quản lý dược còn hạn chế.

2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cấp phát thuốc

Cấp phát thuốc ngoại trú bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình trạng cơ sở vật chất, trình độ nhân viên dược, áp lực công việc và tuân thủ quy trình cấp phát thuốc BHYT. Thiếu hệ thống quản lý điện tử và kiểm soát chất lượng dẫn đến lỗi phát thuốc, ảnh hưởng đến an toàn bệnh nhân.

III. Các chỉ số đánh giá hoạt động kê đơn và cấp phát thuốc

Chỉ số kê đơnchỉ số cấp phát thuốc là những công cụ quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động kê đơn cấp phát thuốc tại các cơ sở y tế. Các chỉ số này bao gồm: số lượng thuốc/đơn, tỷ lệ sử dụng kháng sinh, tỷ lệ kê thuốc tiêm, khoáng chất vitamin, và chế phẩm YHCT. Chỉ số cấp phát thuốc đánh giá mức độ tuân thủ danh mục thuốc BHYT, tỷ lệ lỗi cấp phát, và thời gian chờ đợi. Theo tiêu chuẩn WHO/INRUD, các chỉ số kê đơn lý tưởng bao gồm: 1,6-1,8 thuốc/đơn, tỷ lệ kháng sinh 20-26%, tỷ lệ thuốc tiêm 10-15%. Các chỉ số này giúp xác định những vấn đề cần cải thiện trong kê đơn và cấp phát thuốc.

3.1. Chỉ số đánh giá hoạt động kê đơn

Chỉ số kê đơn bao gồm số lượng thuốc/đơn, tỷ lệ kê kháng sinh, tỷ lệ kê thuốc tiêmkhoáng chất vitamin. Các chỉ số này cho phép đánh giá tính hợp lý của hoạt động kê đơn. Số thuốc/đơn lý tưởng là 1,6-1,8 thuốc, giảm chi phí và tăng an toàn. Tỷ lệ kháng sinh nên ở mức 20-26% để kiểm soát kháng thuốc.

3.2. Chỉ số đánh giá hoạt động cấp phát thuốc

Chỉ số cấp phát thuốc đánh giá tỷ lệ thuốc BHYT có trong danh mục, tỷ lệ lỗi cấp phát, thời gian chờ đợi và mức độ hài lòng bệnh nhân. Cấp phát thuốc chính xác, đủ số lượng và đúng quy trình là yêu cầu cốt lõi, đảm bảo an toàn chế độ BHYT.

IV. Giải pháp cải thiện hoạt động kê đơn và cấp phát thuốc BHYT

Để cải thiện hoạt động kê đơn và cấp phát thuốc ngoại trú, cần thực hiện các giải pháp toàn diện. Đào tạo liên tục cho bác sĩ và dược sĩ về hướng dẫn sử dụng hợp lý thuốc, danh mục thuốc BHYT, và quy trình cấp phát thuốc là cần thiết. Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng chặt chẽ, sử dụng công nghệ thông tin để quản lý kê đơn và kiểm soát chi phí thuốc. Tăng cường trách nhiệm và chịu trách nhiệm của các bác sĩ kê đơn, dựa trên các chỉ số kê đơnchỉ số cấp phát thuốc để đánh giá hiệu suất. Phát triển quy trình cấp phát thuốc theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo an toàn bệnh nhân và hiệu quả chi phí BHYT ngoại trú.

4.1. Đào tạo và nâng cao kỹ năng chuyên môn

Bệnh viện đa khoa cần tổ chức các chương trình đào tạo liên tục về kê đơn hợp lý, sử dụng danh mục thuốc thiết yếu, và kiểm soát kháng sinh. Đặc biệt, dược sĩ cần được đào tạo về quy trình cấp phát thuốc chi tiết, kiểm tra tương tác thuốc và tư vấn bệnh nhân để nâng cao chất lượng cấp phát thuốc BHYT.

4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin và giám sát chất lượng

Xây dựng hệ thống quản lý điện tử để theo dõi hoạt động kê đơn, kiểm soát chi phí thuốc, và phát hiện các lỗi cấp phát thuốc. Thiết lập bộ chỉ tiêu giám sát dựa trên chỉ số kê đơn theo tiêu chuẩn WHO/INRUD, cập nhật hàng tháng để đánh giá tiến độ cải thiện kê đơn cấp phát thuốc BHYT.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, là một trong những phương tiện chủ yếu để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe [25]. Tuy nhiên thuốc có những tác dụng phụ, nếu sử dụng không đúng cách hoặc tự ý sử dụng sẽ gây ra những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người [4]. Do đó đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả là yếu tố then chốt của công tác chăm sóc dược để đảm bảo an toàn sức khỏe cho nhân dân và là mục tiêu của chính sách quốc gia về thuốc [25]. Tuy nhiên hiện nay sử dụng thuốc không hợp lý là vấn đề phổ biến ở các nước đang phát triển, gây tốn kém về chi phí và giảm hiệu quả điều trị [44].

Các vấn đề tồn tại trong sử dụng thuốc không hợp lý đã được ghi nhận tại nhiều quốc gia như sử dụng nhiều thuốc, tự ý sử dụng, sử dụng không đúng cách, lạm dụng thuốc kháng sinh, vitamin,…[23], [24], [38], [39], [50], [73], [75], [76]. Tăng tác dụng phụ, xuất hiện kháng thuốc, kéo dài thời gian điều trị, tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân (BN) và tăng chi phí điều trị là những hậu quả tiêu cực do sử dụng thuốc không hợp lý [7], [37], [50]. Để sử dụng thuốc hợp lý phải thực hiện tốt chu trình sử dụng thuốc gồm chẩn đoán/ theo dõi, kê đơn, cấp phát, sử dụng thuốc. Việc theo dõi thường xuyên, đánh giá định kỳ việc thực hành kê đơn, cấp phát cũng như bệnh nhân sử dụng thuốc giúp xác định vấn đề tồn tại cụ thể trong sử dụng thuốc, thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý và cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin hữu ích trong trong việc xem xét các chính sách liên quan đến thuốc [61], [72].

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quy định về hoạt động sử dụng thuốc nhằm thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý, tuy nhiên thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc vẫn còn bất hợp lý, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc cho một đơn thuốc [7]. Một số nghiên cứu đã được thực hiện tại bệnh viện cho thấy rằng: có đơn thuốc được kê tới 10-12 1 thuốc, số đơn có kê kháng sinh lên đến 79,8% [15], [20], [21], [24]. Bên cạnh đó một số chỉ số chăm sóc bệnh nhân chưa đạt yêu cầu, như thời gian cấp phát chưa đạt mức tối ưu, tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về liều dùng và tuân thủ điều trị chưa cao, một số bệnh viện chưa thực hiện dán nhãn thuốc khi cấp phát thuốc cho bệnh nhân [11], [26], [28]. Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh là một bệnh viện hạng 1 tuyến tỉnh.

Với số lượt khám ngoại trú ngày càng tăng, và cao gần gấp 5 lần so với số lượt bệnh nhân điều trị nội trú [1]. Có thể thấy tầm quan trọng của công tác khám chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện ngày càng được nâng cao khi tỷ lệ bệnh mãn tính ngày càng tăng. Tại bệnh viện đã có đề tài nghiên cứu về hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú năm 2016 [19], tuy nhiên nghiên cứu mới đưa ra thực trạng trong kê đơn ngoại trú mà chưa tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp do đó để nâng cao chất lượng hoạt động kê đơn, cấp phát thuốc ngoại trú, tìm hiểu nguyên nhân và biện pháp khắc phục những tồn tại trong hoạt động này, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích hoạt động kê đơn, cấp phát thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh năm 2018” với mục tiêu: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng kê đơn và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú cho bệnh nhân sử dụng BHYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh năm 2018. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng cấp phát thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cấp phát thuốc BHYT ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh năm 2018.Một số quy định liên quan đến kê đơn, cấp phát thuốc trong cơ sở khám, chữa bệnh Kê đơn, cấp phát thuốc là 2 giai đoạn trong chu trình sử dụng thuốc, đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng thuốc.

Chu trình sử dụng thuốc là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Quá trình này bao gồm theo dõi/ chẩn đoán, kê đơn, cấp phát, sử dụng thuốc và liên quan đến nhiều cán bộ y tế khác nhau như bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và bệnh nhân. Để sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả phải thực hiện tốt tất cả các bước trong chu trình sử dụng thuốc [27]. Kê đơn thuốc Đơn thuốc là căn cứ để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, cân (bốc) thuốc, sử dụng thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc [16].

Đơn thuốc được kê sau khi người kê đơn thuốc thăm khám, chẩn đoán [4], [16]. Đơn thuốc ngoại trú được kê dựa trên nguyên tắc và yêu cầu sau: Nguyên tắc kê đơn ngoại trú: - Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. - Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh. - Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. - Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với tài liệu được Bộ Y tế quy định. - Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị. Không được kê vào đơn thuốc các nội dung: • Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh.

• Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam. • Thực phẩm chức năng. 3 Yêu cầu chung nội dung kê đơn thuốc : - Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong đơn thuốc hoặc trong sổ khám bệnh của người bệnh. - Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố.

- Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh [4] [8]. - Kê đơn thuốc theo quy định như sau:  Thuốc có một hoạt chất • Theo tên chung quốc tế (INN, generic). • Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại).  Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại.

- Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc. Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác. - Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. - Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước.

- Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa. - Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải; ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [4]. Cấp phát thuốc Cấp phát thuốc là quá trình chuẩn bị và phát thuốc tới một người bệnh cụ thể dựa trên đơn thuốc đã được kê. Cấp phát thuốc bao gồm việc diễn giải đúng đơn thuốc theo mong muốn của người kê đơn, chuẩn bị thuốc và ghi nhãn chính xác để phục vụ việc sử dụng của người bệnh [69].

Đối với thuốc cấp phát lẻ không còn nguyên bao gói phải được đóng gói lại trong bao bì kín khí và có 4 nhãn ghi tên thuốc, dạng bào chế, nồng độ (hàm lượng), hạn dùng [2], [5]. Cấp phát thuốc là một khâu trong chu trình sử dụng thuốc và có liên hệ mật thiết tới các khâu còn lại như chẩn đoán, kê đơn, tuân thủ sử dụng của người bệnh và theo dõi điều trị. Cấp phát thuốc là một trong những nhân tố quan trọng trong sử dụng thuốc hợp lý, bất kỳ sai sót nào đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người bệnh [69]. Để thực hiện tốt cấp phát thuốc có thể thực hiện một số biện pháp như cập nhật danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện, thực hiện kiểm duyệt đơn thuốc, chuẩn bị thuốc dưới đơn vị thuốc đơn liều, dùng các hộp đựng thuốc để kiểm soát lượng thuốc cấp phát, hướng dẫn tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân, và dán nhãn thuốc [27].

Dán nhãn thuốc là rất cần thiết đối với người bệnh, kể cả khi người bệnh không biết chữ có thể nhờ người nhà đọc hộ. Đặc biệt khi người bệnh điều trị ngoại trú, nhãn thuốc có thể cung cấp những thông tin quan trọng về thuốc và liều dùng [69]. Trong trường hợp cấp phát thuốc ngoại trú, sau khi bệnh nhân được cấp phát thuốc, người bệnh sẽ tự sử dụng thuốc dựa trên hướng dẫn đã ghi trên đơn thuốc, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc và hướng dẫn của người kê đơn, nhân viên cấp phát thuốc [16]. Quá trình này không có sự theo dõi của nhân viên y tế do đó việc sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú có hiệu quả hay không, phụ thuộc một phần vào sự hướng dẫn sử dụng của cán bộ y tế và sự hiểu biết cách dùng cũng như tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

Để đánh giá hoạt động cấp phát thuốc người ta sử dụng một số chỉ số như thời gian cấp phát thuốc trung bình, tỷ lệ thuốc được cấp phát, tỷ lệ thuốc được dán nhãn đầy đủ, tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về liều dùng, các chỉ số này nằm trong chỉ số chăm sóc bệnh nhân của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra [60]. Chỉ số kê đơn, cấp phát thuốc 1. Chỉ số kê đơn thuốc Các chỉ số về thực hành kê đơn đo lường sự thực hành của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở một số khía cạnh quan trọng liên quan đến việc sử dụng thuốc hợp lý. 5 Các chỉ số kê đơn cơ bản không yêu cầu thu thập bất kỳ thông tin nào về các dấu hiệu và triệu chứng.

Tuy nhiên các chỉ số kê đơn chi tiết đòi hỏi phải ghi lại tên và số tiền mỗi loại thuốc được kê, từ đó giá trị cho mỗi chỉ số kê đơn được tính toán và ghi lại [51], [60]. Các chỉ số kê đơn 1. Số lượng thuốc trung bình được kê trong 1 đơn thuốc Mục đích Để đo lường mức độ kê nhiều thuốc trong một đơn Điều kiện Thuốc phối hợp được tính là một thuốc Cách tính Tổng số thuốc được kê trong đơn thuốc/ số đơn thuốc Giá trị tối ưu 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ