Nguyễn Thành Nam: Phân tích danh mục thuốc tại nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A

Luận văn chuyên sâu phân tích danh mục thuốc tại nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A. Nghiên cứu về cơ cấu, hiệu quả và các giải pháp kinh doanh.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2025

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nhà Thuốc Bệnh Viện Quân y 7A

Nhà thuốc bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là trong các cơ sở quân y. Bệnh viện Quân y 7A, thuộc Quân khu 7, là một đơn vị y tế có quy mô lớn với nhu cầu phục vụ danh mục thuốc đa dạng cho bệnh nhân. Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc kinh doanh tại nhà thuốc bệnh viện này nhằm mục đích đánh giá cấu trúc, hiệu quả phục vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh dược phẩm. Luận văn của Nguyễn Thành Nam tiến hành phân tích toàn diện các khía cạnh của quản lý danh mục thuốc, từ cơ cấu sản phẩm đến hiệu quả kinh tế, giúp xác định các vấn đề tồn tại và đề xuất giải pháp cải thiện.

1.1. Khái niệm và đặc điểm nhà thuốc bệnh viện

Nhà thuốc bệnh viện là cơ sở bán lẻ thuốc chuyên biệt hoạt động trong môi trường bệnh viện, phục vụ bệnh nhân ngoại trú và những người đi kèm. Đặc điểm nổi bật của nhà thuốc bệnh viện bao gồm: tuân thủ quản lý thuốc theo các hướng dẫn của Bộ Y Tế, phục vụ theo đơn kê đơn của bác sĩ, quản lý danh mục thuốc theo nhu cầu bệnh tật của người bệnh, và đảm bảo chất lượng dịch vụ dược học lâm sàng.

1.2. Vai trò của quản lý danh mục thuốc trong hoạt động bệnh viện

Quản lý danh mục thuốc hiệu quả giúp bệnh viện giảm chi phí, cải thiện hiệu quả phục vụ, và đảm bảo tính sẵn có của thuốc. Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Quân y 7A cho phép nhận biết được các sản phẩm quan trọng, mối quan hệ giữa cơ cấu DMT với nhu cầu lâm sàng, và cơ hội tối ưu hóa lợi nhuận hoạt động kinh doanh dược phẩm.

II. Phương pháp phân tích danh mục thuốc

Để phân tích danh mục thuốc kinh doanh một cách toàn diện, luận văn sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Phân tích ABC là một trong những công cụ quan trọng giúp phân loại thuốc theo giá trị kinh tế, xác định những sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu. Ngoài ra, phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo nhiều tiêu chí như nhóm sản phẩm, nguồn gốc, tác dụng dược lý, và hình thức kê đơn cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ cấu DMT. Phương pháp nghiên cứu cũng bao gồm việc đánh giá mức độ không đáp ứng của danh mục thuốc với các đơn thuốc, phản ánh hiệu quả phục vụ của nhà thuốc bệnh viện.

2.1. Phân tích cơ cấu theo các tiêu chí khác nhau

Cơ cấu danh mục thuốc được phân tích theo nhiều góc độ: nhóm sản phẩm (thuốc kê đơn, không kê đơn), nguồn gốc thuốc (thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước), nhóm tác dụng dược lý, và đường dùng (uống, tiêm, ngoài da). Mỗi tiêu chí cung cấp thông tin khác nhau về cơ cấu DMT kinh doanh, hỗ trợ ra quyết định quản lý hợp lý.

2.2. Đánh giá hiệu quả phục vụ và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả phục vụ được đánh giá qua mức độ không đáp ứng của danh mục thuốc với các đơn kê đơn của bác sĩ. Hiệu quả kinh tế được xem xét thông qua phân tích lợi nhuận, cơ cấu doanh thu, và mối quan hệ giữa quản lý danh mục với tính bền vững tài chính của hoạt động kinh doanh dược phẩm.

III. Kết quả phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Quân y 7A

Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Quân y 7A năm 2022-2023 đã tiết lộ những đặc điểm quan trọng về cơ cấu DMT kinh doanh. Phân tích ABC cho thấy một số ít sản phẩm thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu, trong khi phần lớn danh mục thuốc có đóng góp nhỏ. Cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý phản ánh nhu cầu bệnh tật của bệnh nhân, với các nhóm thuốc tim mạch, kháng sinh, và thuốc tiêu hóa chiếm tỷ trọng lớn. Mức độ không đáp ứng của danh mục thuốc với đơn kê đơn được xác định, giúp nhận biết các khoảng trống trong quản lý danh mục.

3.1. Cơ cấu danh mục thuốc theo các khía cạnh chính

Cơ cấu DMT kinh doanh tại Bệnh viện Quân y 7A bao gồm: thuốc genericthuốc BDG với tỷ lệ phần trăm cụ thể, thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn, thuốc gây nghiện và thuốc hướng tâm thần được quản lý riêng biệt. Phạm vi BHYT của danh mục thuốc cũng được phân tích để đánh giá mức độ bảo hiểm cho bệnh nhân.

3.2. Những tồn tại và nguyên nhân trong quản lý danh mục

Phân tích cho thấy một số vấn đề hiệu quả phục vụ liên quan đến mức độ không đáp ứng của danh mục thuốc. Phục vụ thuốc theo mua sắm trực tiếp tạo ra những thách thức trong quản lý danh mục. Ngoài ra, hiệu quả hoạt động kinh doanh cần được cải thiện thông qua tối ưu cơ cấu danh mục thuốc và giảm tồn kho không cần thiết.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng của nghiên cứu

Luận văn phân tích danh mục thuốc của Nguyễn Thành Nam mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động quản lý nhà thuốc bệnh viện. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu cơ cấu danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả phục vụ bệnh nhân, và tăng lợi nhuận hoạt động kinh doanh. Phân tích danh mục thuốc giúp xác định những sản phẩm cần được đưa vào hoặc loại bỏ khỏi danh mục. Nghiên cứu cũng góp phần hoàn thiện quản lý thuốc theo các hướng dẫn quốc gia, đảm bảo chất lượng dịch vụ dược học và hiệu quả kinh tế của bệnh viện.

4.1. Hướng dẫn cải thiện quản lý danh mục thuốc

Dựa trên kết quả phân tích, các biện pháp cải thiện danh mục thuốc bao gồm: điều chỉnh cơ cấu DMT theo nhu cầu lâm sàng thực tế, sử dụng phân tích ABC để ưu tiên quản lý sản phẩm quan trọng, và giảm mức độ không đáp ứng thông qua lập kế hoạch mua sắm hợp lý. Quản lý danh mục thuốc cần kết hợp giữa yêu cầu lâm sàng và hiệu quả kinh tế.

4.2. Tác động đến hoạt động của bệnh viện

Phân tích danh mục thuốc có tác động trực tiếp đến hiệu quả toàn diện của Bệnh viện Quân y 7A. Cải thiện quản lý danh mục giúp tăng hiệu quả phục vụ bệnh nhân, giảm chi phí vận hành, và nâng cao lợi nhuận kinh doanh dược phẩm. Đó là nền tảng để xây dựng danh mục thuốc bền vững, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe lâu dài.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng, đặc biệt sau đại dịch Covid-19. Nhà thuốc trở thành điểm tiếp cận đầu tiên của nhiều người khi có vấn đề về sức khỏe, không chỉ cung cấp thuốc mà còn tư vấn, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Song song đó, thị trường bán lẻ dược phẩm ngày càng cạnh tranh, với sự mở rộng nhanh chóng của các chuỗi nhà thuốc lớn như Pharmacity, Long Châu, An Khang,. Theo khảo sát IQVIA, thị phần chuỗi nhà thuốc tại Việt Nam đã tăng từ 0,3% (2016) lên khoảng 4% (2021) [1].

Bệnh viện Quân y 7A – Quân khu 7 nằm tại trung tâm TP. Hồ Chí Minh, khu vực có mật độ bệnh viện và nhà thuốc dày đặc, tạo điều kiện thuận lợi nhưng cũng đặt ra áp lực cạnh tranh lớn. Nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A (NTBV) không chỉ phục vụ người bệnh nội trú, ngoại trú mà còn góp phần nâng cao hình ảnh và hiệu quả hoạt động của bệnh viện. Trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NTBV là hết sức cần thiết.

Danh mục thuốc (DMT) kinh doanh tại NTBV phản ánh hiệu quả hoạt động qua hai khía cạnh: Chỉ tiêu phục vụ: thể hiện qua mức độ đáp ứng đơn thuốc của bác sĩ và nhu cầu người bệnh; Chỉ tiêu kinh doanh: đánh giá qua nhóm dược lý, nguồn gốc thuốc, phân loại biệt dược/generic, nhóm BHYT chi trả, nguồn đấu thầu, nhóm ABC,… Tuy nhiên, NTBV có cơ chế hoạt động đặc thù, chịu sự chi phối của nhiều quy định khác với nhà thuốc tư nhân, vừa đáp ứng nhu cầu điều trị BHYT vừa bổ sung cho phần thuốc không được BHYT chi trả. Trong khi đó, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào DMT sử dụng trong bệnh viện hoặc tại nhà thuốc tư nhân, rất ít nghiên cứu chuyên sâu về DMT kinh doanh tại nhà thuốc bệnh viện – nơi có vai trò giao thoa giữa mô hình điều trị và kinh doanh. 1 Từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc tại nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A”, với hai mục tiêu cụ thể: 1. Phân tích cơ cấu danh mục thuốc kinh doanh tại nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A năm 2022-2023.

Phân tích một số tồn tại và nguyên nhân trong danh mục thuốc kinh doanh tại nhà thuốc Bệnh viện Quân y 7A năm 2022-2023. Khái quát những nội dung về nhà thuốc bệnh viện 1. Khái niệm cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện Bán lẻ thuốc là hoạt động chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm việc cung cấp, bán lẻ thuốc trực tiếp đến người sử dụng thuốc kèm theo việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng [2]. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 15/2011/TT-BYT ngày 19/4/2011 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện [3] thì: Cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện là cơ sở bán lẻ thuốc trong khuôn viên bệnh viện được tổ chức theo các hình thức: nhà thuốc (nhà thuốc bệnh viện), quầy thuốc hoặc cơ sở bán lẻ thuốc chuyên bán thuốc đông y, thuốc từ dược liệu.

Tại Điều 3 của Thông tư 15/2011/TT-BYT quy định: Đối với bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) trừ các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh: Giám đốc bệnh viện phải tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc. Giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm về hoạt động (bao gồm cả đảm bảo kinh phí) của cơ sở bán lẻ thuốc [3]. Như vậy, theo Thông tư 15/2011/TT-BYT hoạt động của nhà thuốc bệnh viện có thể không đặt nặng vấn đề lợi nhuận mà chủ yếu phục vụ người bệnh tại bệnh viện. Tuy nhiên với cơ chế tự chủ tài chính tại các bệnh viện như hiện nay, việc quan tâm danh mục sản phẩm kinh doanh, đánh giá hiệu quả kinh doanh, phát triển đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng là vấn đề thiết yếu của nhà thuốc bệnh viện nói riêng và bệnh viện nói chung.

Đặc điểm của nhà thuốc bệnh viện Một số đặc điểm khác biệt của nhà thuốc bệnh viện và nhà thuốc bệnh ngoài bệnh viện được thể hiện ở Bảng 1. Khác biệt giữa nhà thuốc trong bệnh viện và ngoài bệnh viện TT Tiêu chí Nhà thuốc bệnh viện Nhà thuốc ngoài bệnh viện 1 Vị trí Trong khuôn viên hoặc trực thuộc Ngoài khuôn viên bệnh bệnh viện viện, thường là hộ kinh doanh cá thể. 2 Mục tiêu Phục vụ người bệnh dịch vụ, phục Hoạt động kinh doanh, vụ những sản phẩm không nằm phục vụ cộng đồng trong BHYT của bệnh viện 3 Phạm vi quản lý Giám đốc bệnh viện chịu trách Cá nhân hoặc tổ chức là nhiệm [3]. chủ sở hữu chịu trách nhiệm.

4 Danh mục thuốc Phải đáp ứng danh mục thuốc điều Thường theo nhu cầu cộng trị cho người bệnh do Hội đồng đồng thuốc và điều trị của bệnh viện công bố [3]. Chủ yếu theo phạm vi BHYT. 5 Nguồn cung - DMT thuộc phạm vi BHYT: Tự Không có quy định, đa tổ chức lựa chọn nhà thầu theo dạng nhà cung ứng, linh Luật Đấu thầu, nếu đã trúng thầu hoạt trong lựa chọn tại bệnh viện thì mua vào bằng giá trúng thầu - DMT không thuộc phạm vi BHYT: tự quyết định mua sắm, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả kinh tế [4]. 6 Thời gian làm việc Có bán thuốc theo ca để đảm bảo Không có quy định.

cung ứng thuốc cho người bệnh kể cả ngoài giờ hành chính, ngày lễ, ngày nghỉ [3]. Tổ chức bán thuốc ban đêm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện trở lên [5]. 4 Sản phẩm kinh doanh tại nhà thuốc bệnh viện: với đối tượng phục vụ chính là người bệnh của bệnh viện, sản phẩm kinh doanh chính của nhà thuốc bệnh viện là thuốc. Ngoài ra còn 1 số sản phẩm khác như: vật tư y tế, thực phẩm chức năng, sữa, mỹ phẩm.

DMT kinh doanh tại NTBV phục vụ cho phần lớn người bệnh khám và điều trị tại bệnh viện nên chắc chắn có sự phụ thuộc nhiều vào mô hình bệnh tật tại bệnh viện, cần thông qua Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện [3]. Căn cứ quy định trên, khi đưa thuốc vào NTBV phải thông qua việc xây dựng danh mục, tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu. Người quản lý NTBV không chủ động tăng hoặc giảm mặt hàng cụ thể theo biến động của thị trường hoặc tình hình sức khỏe của cộng đồng. Thuốc mua vào tại NTBV: theo Khoản 76 Điều 2 Nghị định 155/2018/NĐ- CP, quy định nguồn mua thuốc và giá mua vào tại NTBV được thể hiện ở Bảng 1.

Ngoại trừ: thuốc nhập khẩu đáp ứng nhu cầu cấp bách cho quốc phòng, an ninh, phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa; thuốc nhập khẩu đáp ứng nhu cầu điều trị đặc biệt (ví dụ: Thuốc sử dụng cho mục đích cấp cứu, chống độc mà không có cùng hoạt chất và đường dùng với thuốc đang lưu hành tại Việt Nam; Vắc xin dùng cho một số trường hợp đặc biệt) [7]. Quy định nguồn mua thuốc và giá mua vào tại NTBV TT Nguồn Giá mua vào Ghi chú 1 - Thuốc trúng thầu của chính cơ sở khám Không cao hơn Đấu thầu bệnh, chữa bệnh. giá trúng thầu 2 - Thuốc đã có quyết định trúng thầu tại các Không cao hơn Mua sắm trực cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến trung ương trong giá trúng thầu tiếp vòng 12 tháng. 3 - Thuốc đã có quyết định trúng thầu mua Không cao hơn Mua sắm trực sắm tập trung trong thời hạn của hợp đồng giá trúng thầu tiếp hoặc thỏa thuận khung mua sắm tập trung.

5 Thặng số bán lẻ là trị giá tiền chênh lệch giữa giá thuốc bán ra và giá thuốc mua vào của NTBV [7]. Theo khái niệm tại Giáo trình Kinh tế học vi mô thì đây chính là lợi nhuận gộp, “Chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào trong quá trình kinh doanh thương mại tạo nên phần lợi nhuận thương mại ban đầu – hay còn gọi là lợi nhuận gộp. Mức thặng số bán lẻ là tỉ lệ phần trăm (%) giữa thặng số bán lẻ và giá thuốc mua vào của cơ sở bán lẻ thuốc, như vậy mức thặng số bán lẻ chính là cách gọi của tỷ suất lợi nhuận trên giá vốn. Mức thặng số bán lẻ tối đa của thuốc tại NTBV được quy định như sau [7]: Bảng 1.

Quy định mức thặng số bán lẻ tối đa tại NTBV TT Giá mua vào (đồng) tính trên đơn vị đóng gói Mức thặng số nhỏ nhất bán lẻ tối đa 1 Nhỏ hơn hoặc bằng 1.000 2% Thuế thu nhập doanh nghiệp tại NTBV: Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 14/2008/QH12, bệnh viện hay NTBV đều là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp [9]. Đồng thời, theo quy định tại Điều 4 Thông tư 128/2011/TT- BTC hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở y tế công lập, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của nhà thuốc không phải là thu nhập được miễn thuế, nên cần phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp với mức 2% [10]. Thuế giá trị gia tăng của NTBV: Theo Luật Thuế giá trị gia tăng 13/2008/QH12, được sửa đổi bổ sung năm 2013, thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đối với hoạt động phân phối, cung cấp hàng hoá là 1% (Điều 11) [11]. 6 Qua các đặc điểm nêu trên, có thể thấy sự tồn tại của NTBV là rất cần thiết trong hoạt động chuyên môn khám bệnh và điều trị của bệnh viện.

Tuy nhiên, hoạt động của NTBV đang bị ràng buộc bởi rất nhiều nội dung, cụ thể: - Mục đích tồn tại chính là phục vụ nhu cầu của người bệnh (cụ thể là phục vụ người bệnh dịch vụ, phục vụ những sản phẩm không nằm trong BHYT của bệnh viện), trong khi chưa phải toàn dân đều có BHYT, phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT chưa bao phủ hết tất cả các thuốc dùng trong khám bệnh và điều trị, kể cả những thuốc trong phạm vi BHYT nhưng nếu không trúng thầu thì người bệnh cũng không được BHYT chi trả. - Mặc dù tồn tại để lấp đầy khoảng thiếu sót của DMT phục vụ cho người bệnh BHYT tại bệnh viện, nhưng nguồn mua thuốc và gia mua vào tại NTBV lại xoay quanh: DMT trúng thầu và giá không cao hơn giá trúng thầu (Bảng 1. Điều này làm hạn chế sản phẩm đầu vào, vô tình gây khó khăn cho mục đích phục vụ nhu cầu người bệnh của NTBV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ