Đặt vấn đề Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nắng ẩm mưa nhiều, rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển. Tùy vào từng loại nấm mà mục đích sử dụng khác nhau, có thể sử dụng làm nấm ăn hay làm nấm dược liệu. Nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) là loài dược liệu quý có từ lâu đời. Linh chi là một vị thuốc đã được ghi trong tập sách “Thần nông bản thảo” viết cách đây khoảng 2000 năm.
Lý Thời Trân, tác giả bộ “Bản thảo cương mục” nổi tiếng thế giới, cũng đã giới thiệu vị Linh chi với khoảng 2000 từ và 6 loại linh chi khác nhau: Thanh chi, Hồng chi, Hoàng chi, Bạch chi, Hắc chi và Tử chi. [1] Loài nấm quý này có khả năng nâng cao tính miễn dịch của cơ thể, có tác dụng nhất định đối với hệ thần kinh trung ương, hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, giúp tăng tuổi thọ. Ngoài ra còn có tác dụng đối với bệnh gan, cao huyết áp, suy nhược thần kinh, giảm bạch cầu. Nấm Linh Chi còn hỗ trợ cho việc điều trị ung thư, thấp khớp, đau thận, đau dạ dày, tiểu đường, đau nửa đầu [2].
Giá thành nấm Linh chi hiện nay vẫn khá cao dẫn tới việc nhiều người dân chưa có khả năng sử dụng loại nấm dược liệu có giá trị này. Đặc biệt là những người có thu nhập thấp hoặc những bệnh nhân ung thư vốn đã cạn kiệt kinh tế do các chi phí tốn kém của quá trình điều trị bệnh. Vì vậy, việc mở rộng quy mô trồng nấm cũng như đơn giản hóa kỹ thuật để phố biến phương pháp nuôi trồng tới người dân là việc làm cần thiết. Hiện nay nấm Linh chi được nuôi trồng với nhiều hình thức như trong các lán trại với các bịch mùn cưa hoặc trên các thân gỗ.
Gần đây nhiều nước trên thế giới phát triển hình thức nuôi trồng nấm Linh chi bán tự nhiên trong các nhà lưới. Các khối cơ chất có sợi nấm Linh chi phát triển tốt được vùi trong các luống đất có bổ sung các thành phần dinh dưỡng. Hình thức nuôi m 2 cấy này cho kích thước thể quả to hơn, sản phẩm nấm thu được tương tự với những sản phẩm nấm thu hái trong tự nhiên. Tuy nhiên hình thức nuôi cấy này chưa được phổ biến ở Việt Nam.
Xuất phát từ giá trị dược liệu và kinh tế của nấm Linh chi cũng như nhu cầu thực tế xã hội, đề tài: “Phân lập và nuôi trồng nấm Linh chi trong điều kiện bán tự nhiên” được thực hiện nhằm khai thác những tiềm năng vốn có của loại nấm dược liệu này.2 Mục tiêu của đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát Nuôi trồng nấm Linh chi trong điều kiện ngoài trời, không sử dụng hệ thống lán trại. Bước đầu xây dựng quần thể nấm Linh chi có sự tương tác với hệ sinh thái môi trường, có giá trị về cảnh quan và dược liệu.2 Mục tiêu cụ thể - Phân lập giống nấm Linh chi - Nhân giống nấm sản xuất trên các nguyên liệu: Thóc, mùn cưa, tăm bông. - Sản xuất thể quả nấm Linh chi, sử dụng lớp đất che phủ 1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài phát triển quy trình nuôi trồng nấm Linh chi mới, dễ chăm sóc, dễ sử dụng, thân thiện với môi trường tự nhiên.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Nâng cao chất lượng sống cho người dân, giá trị dinh dưỡng từ nấm mang lại rất tốt cho sức khỏe con người. - Định hướng cho người dân hướng tới những mô hình nuôi trồng lớn hơn, đa dạng hơn, có ý nghĩa kinh tế.
- Phát triển thị trường cho các loại giống nấm (hay meo nấm) thương mại, tăng thu nhập cho người sản xuất. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nấm linh chi 2. Phân loại Nấm linh chi có tên khoa học: Ganoderma lucidum ((Leyss sx Fr.
Hình 1: Thể quả nấm Linh chi Phân loại học: - Ngành: Eumycota - Lớp: Hymenomycetes - Bộ: Ganodermatales - Họ: Ganodermataceea - Chi: Ganoderma Linh chi là một vị thuốc đã được ghi trong tập sách “Thần nông bản thảo” viết cách đây khoảng 2000 năm. Lý Thời Trân, tác giả bộ “Bản thảo cương mục” nổi tiếng thế giới (Lần đầu tiên in năm 1595), cũng đã giới thiệu vị Linh chi với khoảng 2000 từ và 6 loại Linh chi mang màu sắc và tên khác nhau: Thanh chi (Linh chi màu xanh), hồng chi (màu hồng) còn gọi xích chi, m 4 đơn chi, hoàng chi (còn gọi là kim chi) màu vàng, bạch chi (con gọi là ngọc chi) màu trắng, hắc chi (còn gọi huyền chi) màu đen, tử chi – Linh chi màu tím. Tuy có ghi trong các sách cổ nhưng ít người thấy, được sử dụng, nên Linh chi từ lâu vẫn thuộc loại thuốc quí hiếm, chỉ có vua chúa, người giàu mới có để sử dụng [2]. Đặc điểm sinh học Về thực vật, người ta xác định nấm Linh chi không phải một loại cỏ, mà là một loại nấm hóa gỗ có cuống dài hoặc ngắn, mũ nấm có dạng hình thận, có dạng hình tròn hay hay quạt.
Cuống thường cắm không ở giữa mũ nấm mà cắm lệch sang một phía mũ. Hình trụ tròn hay dẹt có thể phân nhánh cuống và cuống có màu khác nhau tùy theo loài, loài đỏ thay đổi từ nâm đến đỏ vàng, đỏ cam, mặt trên bóng loáng như đánh vecni, trên mặt mũ có những vân đồng tâm. Thụ tầng màu trằng ngà, khi già ngả màu nâu vàng, mang nhiều lỗ nhỏ li ti là các ống thụ tầng mang bài tử. Bào tử loài xích chi hình trứng, được bao bọc bởi 2 lớp màng, màng ngoài nhẵn, không màu, màng trong màu gỉ sắt, lôc nảy mầm có hình gai nhọn.
Toàn nấm gồm những sợi nấm không màu trong sáng, đường kính 1-3mm, có phân nhánh. Cấu tạo của sợi nấm Nấm Linh chi và các nấm ăn có cấu tạo chủ yếu là hệ sợi nấm. Các sợi nấm ăn có dạng ống tròn, đường kính khoảng 2-4 micromet. Các ống này có vách ngăn ngang.
Sợi nấm còn gọi là khuẩn ty. Hệ sợi nấm còn gọi là khuẩn ty thể (mycelium). Khoảng cách giữa hai vách ngăn ngang được gọi là tế bào. Trong tế bào sợi nấm khi quan sát dưới kính hiển vi quang học (phóng đại 1000- 1500 lần) hoặc kính hiển vi điện tử có thể thấy rõ các bào quan.
Tế bào nấm có những đặc trưng riêng, khác biệt với tế bào thực vật, động vật. Trước hết là thành phần của thành tế bào. Dưới kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy thành tế bào cấu tạo bởi nhiều lớp. Nếu như thành tế bào thực vật cấụ tạo chủ yếu bởi xenluloza thì thành tế bào của nhũng nhóm nấm m 5 khác nhau lại cấu tạo bởi những thành phần khác nhau.
Các nấm ăn và nấm Linh chi có thành tế bào cấu tạo chủ yếu bởi kitin-glucan. Tế bào nấm không có đời sống độc lập trong sợi nấm vì giữa các tế bào có vách ngăn có lỗ thủng. Ở một số loại nấm như nấm túi chỉ có 1 lỗ ở giữa vách ngăn, lỗ này có đuờng kính khoảng 0,1-0,2 µm. Ở nấm Linh chi hay nấm đảm nói chung, lỗ thông giữa vách ngăn có cấu tạo phức tạp hơn - lỗ có gờ cao và hai phía lỗ còn có nắp đậy.
Trên nắp đậy có nhiều lỗ nhỏ với đường kính khoảng 0,09-0,18 µm. Thông qua các lỗ ở vách ngăn và nắp đậy vách ngăn, chất nguyên sinh có thể di chuyển dễ dàng trong sợi nấm. Ngay nhân tế bào có khi cũng thắt nhỏ lại để chui qua được các lỗ này, sợi nấm trở thành một ống sống. Ở đầu sợi nấm, nơi thực hiện quá trình tăng trưởng, chất nguyên sinh thường tập trung dày đặc.
Có 3 cấp sợi nấm, sợi nấm cấp một (sơ sinh), sợi nấm cấp hai (thứ sinh) và sợi nấm cấp ba (tam sinh). Sợi nấm cấp một lúc đầu không có vách ngăn và có nhiều nhân, dần dần sẽ tạo vách ngăn và phân thành những tế bào đơn nhân trong sợi nấm. Sợi nấm cấp hai được tạo thành do sự phối trộn giữa hai sợi nấm cấp một. Khi đó nguyên sinh chất giữa hai sợi nấm khác dấu sẽ trộn với nhau (chất phối plasmogamy).
Hai nhân vẫn đứng riêng rẽ làm cho các tế bào có hai nhân. Người ta còn gọi sợi nấm loại này là sợi nấm song nhân. Sợi nấm cấp ba là do sợi nấm cấp hai phát triển thành. Các sợi nấm liên kết lại chặt chẽ với nhau và tạo thành quả nấm (quả thể) [1], [2].
Thể quả nấm Quả nấm hay quả thể (fruit body) là cơ quan sinh sản, cũng tức là cơ quan sinh bào tử của các loại nấm bậc cao. Đó chính là phần thu hái để ăn của các loại nấm ăn, hay phần thu hái để làm dược liệu ở nấm Linh chi. Quả nấm ở nấm đảm gọi là quả đảm (basidiocarp) còn quả nấm ở nấm túi gọi là quả túi (ascocarp). Tuỳ loại nấm mà quả nấm có hình thái cấu tạo, màu sắc, kích thước không giống nhau.
Phần trên cùng của quả nấm là mũ nấm (pileus, cap). Mũ m 6 nấm được mọc trên cuống nấm (stipe). Mặt dưới của mũ nấm có rất nhiều phiến nấm (gill, lamellae). Khi cuống nấm và mũ nấm chưa xòe rộng thì quả nấm được gọi là nụ nấm (button).
Ở nấm đảm trên phiến nấm có thể có dạng nang nối liền hai phiến gần nhau, hoặc dạng thể nang tự tiêu, có đảm (basidium), có bào tử đảm (basidiospore), có ống sữa. Có loài nấm đảm không có phiến nấm mà lại có ống nấm. Trong ống nấm cũng có các thể dạng nang (cystidia), có đảm, có bào tử đảm. Đảm là tế bào đỉnh phình to lên của một sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể.
Tế bào này gọi là nguyên đảm. Nhân trong nguyên đảm tiến hành quá trình phối nhân để tạo ra hợp tử 2n (nhị bội thể). Hợp tử này phân cắt giảm nhiễm để tạo ra 4 nhân đơn bội (1n). Bốn nhân này chui vào 4 mấu lồi phình to ở phía đầu đảm và sau đó phát triển thành 4 bào tử đảm.
Nấm và vai trò trong hệ sinh thái Các loại hình dinh dưỡng nấm ăn và dược liệu có vị trí quan trọng đối với các vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Dựa vào phương thức hấp thu thức ăn có thể chia nấm ăn thành các loại hoại sinh (saprophytism), ký sinh (parastism) và cộng sinh (symbiosis). Loại hoại sinh chiếm ưu thế trong các loài nấm ăn và dược liệu, chúng sử dụng các loại chất hữu cơ khác nhau và góp phần vào các vòng tuần hoàn carbon, nitơ trong tự nhiên.