Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CAO DUY SƠN 1. Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật 1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và tư duy chủ yếu của con người trong xã hội, tồn tại ở hai dạng nói và viết, dùng để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, bộc lộ cảm xúc của con người. Có nhiều cách hiểu về ngôn ngữ.
Người ta có thể sử dụng từ ngôn ngữ để chỉ một hệ thống kí hiệu bất kì dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào đó. Ví dụ: ngôn ngữ điện ảnh là toàn bộ những phương tiện nghệ thuật được các nhà làm phim sử dụng để phản ánh hiện thực; ngôn ngữ hội họa là toàn bộ những đường nét, màu sắc, hình khối mà họa sĩ sử dụng để phản ánh thế giới; ngôn ngữ của loài ong là toàn bộ những "vũ điệu" mà loài ong sử dụng để báo cho nhau về nơi chốn có hoa và lượng hoa. Và với con người, ngôn ngữ có thể hiểu là hệ thống kí hiệu bao gồm “hệ thống ngữ âm, những từ và quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [20, tr. Ví dụ: tiếng Nga, tiếng Việt là hai ngôn ngữ có những hệ thống ngữ âm và quy tắc kết hợp từ khác nhau.
Ngôn ngữ còn được hiểu gồm hai yếu tố tạo thành. Ngôn là lời nói do các cá nhân trong xã hội nói ra mà ta nghe được. Lời nói được tạo ra bởi các âm, các thanh và chứa đựng nội dung thông tin, có thể gồm một hoặc nhiều câu nói. Ở các xã hội đã phát triển, đã có chữ viết, lời nói có thể được ghi lại dưới dạng lời viết.
Ngữ là phần trừu tượng tồn tại trong trí óc của một cộng đồng xã hội thường là một tộc người. Ðấy là một kho tàng được thực tế nói năng của những người cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại. Bên cạnh đó, người ta còn dùng khái niệm “ngôn ngữ” để chỉ đặc điểm khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, một tầng lớp hay một lứa tuổi hoặc một phong cách ngôn ngữ cụ thể. Ví dụ: ngôn ngữ Nguyễn Du, ngôn ngữ trẻ em, ngôn ngữ báo chí.
8 download by : skknchat@gmail.com Loài người đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ. Nhưng những công cụ này dù có những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại có nhiều hạn chế và không thể quan trọng bằng ngôn ngữ. Cử chỉ, nét mặt, dáng điệu là những phương tiện giao tiếp quan trọng. Nhưng so với ngôn ngữ, chúng thật nghèo nàn và hạn chế.
Các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ. đều là những công cụ giao tiếp rất quan trọng của con người. Chúng có những khả năng to lớn và kì diệu nhưng vẫn bị hạn chế nhiều mặt so với ngôn ngữ. Chúng không thể truyền đạt khái niệm và tư tưởng mà chỉ khơi gợi trên cơ sở những hình ảnh thính giác hay thị giác gây ra được ở người xem.
Những tư tưởng, tình cảm này thường thiếu tính chính xác, rõ ràng. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy và tư duy định hình nhờ ngôn ngữ, chỉ cần suy nghĩ về bất cứ cái gì là lập tức phải dùng đến ngôn ngữ. Các nhà khoa học cũng suy nghĩ bằng cái gọi là ngôn ngữ bên trong gồm các từ các câu. Einstein đã từng nói “Không có nhà bác học nào chỉ suy nghĩ bằng công thức” (dẫn theo Ðái Xuân Ninh).
Ngôn ngữ mới chỉ là chất liệu vật chất của tác phẩm văn học chứ chưa phải là hình thức của chỉnh thể thẩm mĩ trọn vẹn. Từ ngôn ngữ đến ngôn ngữ nghệ thuật là cả quá trình lao động sáng tạo của nhà văn. Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học các tác giả cho rằng ngôn ngữ nghệ thuật là: “một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật” [35, tr. Nhóm tác giả của cuốn sách còn đồng nhất ngôn ngữ của sáng tác văn học với cấp độ ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật khác như ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh.
Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật có điểm gần gũi với khái niệm lời văn nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả tính thẩm mĩ của nó là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học. Không có ngôn ngữ nghệ thuật thì không thể có tác phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học ngôn ngữ giúp nhà văn cụ thể hóa chủ đề, tư tưởng, cốt truyện, tính cách nhân vật.
Nguyễn Tuân đã nhận định về mối quan hệ giữa ngôn từ và nghề văn như sau: “Nghề văn 9 download by : skknchat@gmail.com là nghề của chữ, chữ với tất cả mọi nghĩa mà mỗi chữ phải có được trong một câu, nhiều câu. Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa mà sinh sự để sự sinh” [31]. Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng đều được thể hiện bằng lời văn: có lời tác giả, lời nhân vật, lời trực tiếp, lời gián tiếp. Lời văn là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Như vậy, có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật hay ngôn ngữ văn học là “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học”. Nó là kết quả của quá trình sáng tạo nghệ thuật không ngừng của người cầm bút trên cơ sở ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hóa. Ngôn ngữ được chọn lọc, gọt rũa, trau chuốt để không chỉ chứa đựng thông tin đơn thuần mà quan trọng hơn thể hiện một cách chính xác những quan điểm, đánh giá, những tư tưởng tình cảm hay chính là những thông điệp mà nhà văn hoặc nhân vật gửi gắm. Đặc biệt ngôn ngữ đó phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ, những rung động tình cảm sâu sắc.
Ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng cả thế giới mà nhà văn sáng tạo: đề tài, chủ đề, kết cấu, cốt truyện, cảnh vật và con người,. Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng nhưng khi được các nhà văn, nhà thơ sử dụng thì ở mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng, không dễ bắt chước, pha trộn. Sự khác nhau về ngôn ngữ của mỗi tác giả thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu, sử dụng hình ảnh bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết. Chính những biện pháp xử lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.Vì vậy, có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một trong những yếu tố cơ bản góp phần tạo nên phong cách của mỗi nhà văn, nhà thơ hay chính là phong cách tác giả.
Những thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cho rằng: “Lời thơ, lời trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật” [39, tr. Vì vậy, các thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại. Ngoài ra chúng ta cũng có thể nhận thấy, đặc điểm về từ 10 download by : skknchat@gmail.com ngữ, câu văn cũng là một phương diện quan trọng tạo nên những đặc trưng riêng của ngôn ngữ nghệ thuật. * Ngôn ngữ trần thuật hay còn được gọi là ngôn ngữ người kể chuyện hoặc ngôn ngữ của tác giả.
Kiểu ngôn ngữ này thường là lời miêu tả một cách gián tiếp của nhà văn. Chức năng của loại ngôn ngữ này là trình bày toàn bộ thế giới hình tượng, kể cả các yếu tố nội dung, hình thức của lời nhân vật. Tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan, sự việc, con người, cảnh vật, đồ vật. Tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức cho người khác: “giúp cho các sự vật, hiện tượng như ngoại hình, tình trạng, môi trường, phong cảnh, sự kiện.vốn không biết nói, được nói lên trong tác phẩm” [35, tr.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Mỗi thể loại văn học có cách thức tổ chức và đặc trưng ngôn ngữ riêng, nếu kịch chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình chủ yếu sử dụng ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc thì ngôn ngữ cơ bản của văn xuôi là ngôn ngữ trần thuật. Phương Lựu tác giả của cuốn Lý luận Văn học nêu rõ: “Trần thuật là hình thức trình bày bằng lời văn, các chi tiết, sự kiện, tình tiết có quan hệ biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn theo một cách nhìn, cách cảm nhất định. Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học truyền đạt nó tới người thưởng thức.
Bố cục của trần thuật là cách sắp xếp, tổ chức sự tương ứng giữa các phương tiện khác nhau của hình tượng với các tác phẩm khác nhau của văn bản” [27, tr. Đề cập đến vai trò của ngôn ngữ trần thuật, nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định rõ: “Ngôn ngữ trần thuật chẳng những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả” [39, tr. Khi tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ta thấy phần lớn truyện ngắn của ông được trần thuật theo hướng khách quan hóa, người trần thuật hòa mình với nhân vật, trao lời trần thuật cho nhân vật. Ngôn ngữ trần thuật đã giúp nhà văn tạo ra những tình huống khách quan trong truyện ngắn.
Trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nhìn 11 download by : skknchat@gmail.com thẳng vào vấn đề đời sống sau 1975. Ông đã tạo ra tình huống truyện độc đáo đó là tình huống nhận thức mang ý nghĩa khám phá phát hiện về cuộc sống và nghệ thuật của Phùng. Ở tình huống truyện này, Nguyễn Minh Châu đã để chủ thể dùng ngôn ngữ trần thuật phản ánh đời sống, đưa ra những vấn đề đầy nghịch lí: nghịch lí giữa cái đẹp của nghệ thuật với sự trần trụi, bi đát của cuộc sống hiện tại; nghịch lí tồn tại ngay trong bản thân nhân vật vợ chồng người hàng chài.