MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của dề tài Cây Hoài Sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burkill, thuộc họ Củ nâu). Cây dược liệu này có các tên gọi khác là: sơn dược, khoai mài, củ mài, chính hoài [1]. Cây mọc hoang phổ biến ở miền Bắc và miền Trung của nước ta cho tới Huế.
Còn phân bố ở Trung Quốc, Lào và Campuchia. Cây có rất nhiều công dụng trong dược liệu thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Cây củ mài ngoài vai trò chính là nguồn cung cấp lương thực, trong dân gian củ mài còn được con người nghiên cứu và biết đến với vai trò là một vị thuốc nằm trong danh mục Dược điển Việt Nam. Hoài Sơn là một loại củ đa tác dụng.
Trong củ chứa tinh bột 63,25%, protid 6,75% và glucid 0.45%, còn có mucin là một protein nhớt, và một số chất khác như allantoin, cholin, arginin, men maltose, saponin có nhân sterol. Công năng: Kiện thoát vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Công dụng: Nhân dân vùng núi thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn; có thể dùng ghế cơm để ăn như các loại khoai. Hoài sơn được sử dụng làm thuốc bổ ngü tạng, mạnh gân xương và dùng chữa: 1.
Người có cơ thể suy nhược; 2. Bệnh đường ruột, ỉa chảy, lỵ lâu ngày; 3. Bệnh tiêu khát; 4. Di tinh, mộng tinh và hoạt tinh; 5.
Viêm tử cung. Tỉnh Lào Cai có nhiều khu vực núi cao với địa hình chia cắt và phân bố cao thấp khác nhau, điều kiện khí hậu đa dạng từ nhiệt đới đến á nhiệt đới. Nhờ vậy tỉnh Lào Cai có nhiều loại cây dược liệu quý với số lượng hàng trăm loài, nhiều loài quý hiếm có giá trị y dược rất cao. Tuy nhiên do nhiều yếu tố hiện nay việc trồng và sản xuất cây dược liệu đang không bắt kịp cơ chế thị trường, hiệu quả kinh tế từ cây dược liệu còn thấp, sản xuất manh mún, chưa h 2 bền vững.
Do vậy, để phát triển ngành dược liệu cũng như tạo dựng được thương hiệu dược liệu Lào Cai, cần có chiến lược dài hơi, từ thay đổi cơ chế, chính sách đến phát triển vùng chuyên canh, ứng dụng công nghệ cao và tìm đầu ra cho sản phẩm ổn định. Cây dược liệu Hoài Sơn (củ Mài) được người dân địa phương tại tỉnh Lào Cai biết đến và sử dụng từ rất lâu đời. Tuy nhiên, theo khảo sát sơ bộ ban đầu tại tỉnh Lào Cai, người dân chỉ khai thác cây củ mài từ tự nhiên, với mục đích làm thực phẩm là chính. Đa số người dân chưa nhận thức được giá trị của dược liệu hoài sơn, và chủ yếu thu hoạch trong tự nhiên, chưa phát triển thành các vùng sản xuất tập trung.
Việc nghiên cứu sản xuất củ mài còn chưa được chú ý đúng mức, Đồng thời, ít có tài liệu nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nhân giống và sản xuất cây hoài sơn. Vì vậy, cây này đang có nguy cơ bị thoái hóa giống. Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của y học cổ truyền và nhu cầu sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên ngày càng cao. Tại Hội nghị toàn quốc của Chính phủ về phát triển dược liệu Việt Nam ngày 12/4/2017 tại Lào Cai, thông tin tổng hợp báo cáo tại hội nghị cho biết, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60-80.
Khối lượng dược liệu xuất khẩu theo thống kê đạt gần 5.000 tấn, đem lại giá trị trên 6 triệu USD mỗi năm. Giá trị kinh tế đem lại từ việc nuôi trồng dược liệu cao hơn hẳn so với các loại cây lương thực khác (cao hơn gấp 5-10 lần trồng lúa). Trong đó, hoài sơn cũng là một trong những loại cây dược liệu quý, có nhu cầu trong nước và xuất khẩu lớn. Chính vì thế, trong mấy năm gần đây, tỉnh Lào Cai đã có định hướng và cho cây dược liệu hoài sơn vào danh mục các loại dược liệu cần ưu tiên phát triển trên diện rộng.
h 3 Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ”Nghiên cứu tình hình sản xuất và biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Hoài Sơn tại huyện Bảo Thắng, Lào Cai” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhân giống và sản xuất phù hợp, hiệu quả đối với việc thực hiện phát triển sản xuất cây Hoài Sơn. Đồng thời góp phần làm tăng thêm thu nhập kinh tế cho nhân dân địa phương. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Đánh giá thực trạng sản xuất cây Hoài Sơn tại địa bàn nghiên cứu.
Đồng thời, nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây Hoài Sơn để cây sinh trưởng và phát triển tốt tại địa bàn Lào Cai, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cho giống nghiên cứu. Yêu cầu Đánh giá thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương và tình hình sản xuất, thu hoạch hoài sơn. Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng - phát triển của cây Hoài Sơn ở các công thức thí nghiệm về biện pháp nhân giống khác nhau. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa hoc để xác định được công thức nhân giống thích hợp nhất với cây Hoài Sơn để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất, nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất cho giống nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho nhà nghiên cứu, sinh viên, cán bộ nông nghiệp và người sản xuất trong và ngoài tỉnh Lào Cai truy cứu, tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng quy trình nhân giống có hiệu quả nhất cho cây Hoài Sơn, mang lại hiệu quả kinh tế cho các địa phương, hợp tác xã, hộ gia đình khi sản xuất cây Hoài Sơn. Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng và kỹ thuật chăm sóc cây trồng, biết được phương pháp thu thập số liệu, xử lí số liệu và cách viết một bài báo cáo nghiên cứu khoa học.
h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Theo đánh giá sơ bộ cho thấy, mặc dù Hoài Sơn là một vị thuốc Đông y quý, thông dụng. Tuy nhiên, giống cây này ngày càng hiếm và chưa có nguồn cung ứng ổn định tại Việt Nam do chủ yếu thu thập từ tự nhiên hoặc trồng với quy mô nhỏ lẻ ở vườn gia đình. Do đó, hiện nay trên thị trường, sản phẩm Hoài Sơn chủ yếu phải nhập từ Trung Quốc.
Đồng thời, tình trạng đóng gói hàng giả xảy ra khá phổ biến do lợi nhuận cao và nhu cầu thị trường lớn. Đồng thời, tình trạng sử dụng hóa chất bảo quản thuốc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thuốc và gây tác dụng phụ cho người bệnh. Huyện Bảo Thắng nằm ở phía Đông Nam tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp huyện Mường Khương, phía Tây giáp huyện Sapa và một phần thành phố Lào Cai, phía Đông giáp huyện Bắc Hà, phía Nam giáp huyện Văn Bàn và Bảo Yên. huyện Bảo Thắng được đánh giá là vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất nông nghiệp một cách toàn diện.
Tài nguyên thiên nhiên của huyện Bảo Thắng rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trong đó gồm cả phát triển dược liệu. Đất đai của huyện chủ gồm 3 loại chính của nhóm feralit thích hợp cho phát triển sản xuất cây trồng nông nghiệp và lâm sản ngoài gỗ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 22-23oC, biên độ nhiệt ngày đêm lớn thích hợp cho việc chuyển hóa các chất dinh dưỡng của cây trồng, nâng cao chất lượng sản phẩm, độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa bình quân 1500 - 1600mm/năm (Bùi Luyện, 2013) [13]. Qua đó cho thấy huyện Bảo Thắng có nhiều lợi thế để sản xuất dược liệu theo hướng hàng hóa, từng bước hình thành vùng sản xuất dược liệu tập trung, góp h 6 phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất, và chương trình nông thôn mới của địa phương.
Các nghiên cứu liên quan đến cây củ mài trên thế giới và Việt Nam gồm: nguồn gốc và phân loại (Simmonds và cs. 2006; Abraham và cs. 2013) [21], đa dạng sinh học (Thoa và cs. 2015; Nguyễn Anh Tuấn và cs.
2015) [6], giá trị dinh dưỡng và thức ăn (He và cs. 2002, Mohan và cs. 2011, Sang và cs. 2012, Saleha và cs.
2018) [18], tác dụng chữa bệnh (Chang và cs. 2013, Thanh và cs. 2018) [22], và ứng dụng công nghệ sinh học trong cải tiến giống (Mignouna và cs. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp nhân giống và kỹ thuật sản xuất cây Hoài Sơn.
Do vậy, việc đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình nhân giống và sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và độ bền củ, tăng hiệu quả và thu nhập cho người trồng cây tại địa bàn nghiên cứu. Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cây Hoài Sơn. Nguồn gốc và phân bố Cây Hoài Sơn hay khoai mài (Dioscorea pesimilis) là một trong số hàng trăm loài thuộc chi Dioscorea, họ củ nâu Dioscoreaceae, được ghi nhận là một trong những cây hoang dại làm lương thực lâu đời nhất. Họ củ nâu có thể là một nhóm cổ nhất trong thực vật hạt kín.
Theo Burkill (1960) nhiều loài của chi Dioscorea dường như có quan hệ gần gũi với khoai mỡ (D. Alata) ở nước ta được mô tả là D. hamiltonia phân bố tự nhiên từ phía bắc của bán đảo Malaysia tới Tây Bắc của Ấn Độ và D. persimilis phân bố ở phía Đông; từ Nam Trung Quốc tới Nam Đài Loan.
Hai loài này gần giống với D.alata và được tin là có quan hệ cùng tổ tiên hay có nguồn gốc chung. Hai loài hoang h 7 dại và các giống D.alata của Đông Nam Á này đều có củ dài, được vùi sâu dưới đất, đảm bảo an toàn trước sự tấn công của những con lợn hoang dã. Đặc điểm họ củ Nâu (Dioscoreaceae): Dây leo bằng thân quấn (theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại). Có củ hoặc thân rễ sống nhiều năm dưới đất.
Lá đơn hay lá kép hình chân vịt, rộng như lá cây 2 lá mầm, mọc so le nhưng những lá non trông như mọc đối, gân lá 3-9, tỏa ra từ gốc. Hoa nhỏ, thường đơn tính khác gốc, thường mọc thành chùm hay bông dày đặc. Bao hoa phần lớn dính thành ống ngắn, 3 cánh hoa hơi khác 3 lá đài. Hoa đực có 6 nhụy, hoặc còn 3 nhụy do 3 nhụy vòng trong bị tiêu giảm.