Chương 1: Cơ sở lý luận về cung cấp dịch vụ nông nghiệp và sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ nông nghiệp Chương 2: Thực trạng sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ cung cấp nước tưới tiêu nông nghiệp của Công ty TNHH MTV Sông Chu – Chi nhánh Bái Thượng. Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ cung cấp nước tưới tiêu nông nghiệp của Công ty TNHH MTV Sông Chu – Chi nhánh Bái Thượng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP 1. Dịch vụ nông nghiệp 1.
Khái niệm dich vụ Ở mỗi góc độ, khái niệm dịch vụ được định nghĩa khác nhau. Theo cách hiểu chung nhất, dịch vụ là bất kỳ hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cống hiến cho bên kia, có tính chất vô hình và không dẫn đến việc sở hữu bất kỳ món gì. Việc sản xuất ra nó có thể hoặc không hề bị ràng buộc với một sản phẩm vật chất [7]. Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, dịch vụ được hiểu là tổng hợp các hoạt động như cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, vật tư hàng hóa, thông tin thị trường… nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [15]. Như vậy có thể hiểu “dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình tạo ra các sản phẩm vô hình, mang lại chuỗi giá trị nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của thị trường” 1. Khái niệm dịch vụ nông nghiệp, nông thôn Dịch vụ nông nghiệp gắn liền với cơ thể sống mà sự tồn tại và phát triển của nó tuân theo các quá trình sinh học. Quá trình sản xuất nông nghiệp được phân chia thành nhiều khâu, trong đó có những khâu cần thiết phải có sự hợp tác lao động, phải sử dụng dịch vụ mới đạt hiệu quả cao.
7 Dịch vụ nông thôn được hiểu là toàn bộ hoạt động phục vụ chuẩn bị các yếu tố đầu vào, sản xuất, thu gom, sơ chế, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nhằm tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp diễn ra nhanh chóng và hiệu quả [10]. - Dịch vụ, xét trong phạm vi toàn xã hội, gồm toàn bộ những hoạt động gián tiếp để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, bao gồm: + Những hoạt động phục vụ cho sản xuất. + Những hoạt động phục vụ cho đời sống. - Xét trong phạm vi ngành nông nghiệp, dịch vụ được phân ra: + Những hoạt động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
+ Những hoạt động phục vụ cho đời sống nông thôn. - Dịch vụ nông nghiệp, bao gồm: + Những hoạt động cung ứng các loại vật tư “đầu vào” và vốn cho sản xuất nông nghiệp. + Những hoạt động bao tiêu các loại sản phẩm “đầu ra” từ sản xuất nông nghiệp của nông dân. + Những hoạt động tạo ra những điều kiện - yếu tố thuận lợi hơn cho sản xuất nông nghiệp của các hộ (nếu để từng hộ tự làm thì hoặc họ không thể làm được hoặc làm thường bị lỗ do quy mô dịch vụ nhỏ hơn quy mô hòa vốn và chất lượng thấp do không chuyên).
- Dịch vụ nông thôn, bao gồm: + Những hoạt động cung ứng các vật phẩm tiêu dùng cho đời sống nông thôn. + Những hoạt động tạo ra những điều kiện - yếu tố thuận lợi hơn cho đời sống nông thôn (mà nếu để từng hộ tự làm thì họ hoặc cũng không thể làm được hoặc làm thường bị lỗ và chất lượng thấp). 8 Như vậy, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn gồm tất cả những hoạt động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (cung ứng vốn và các loại vật tư đầu vào, bao tiêu các sản phẩm đầu ra và tạo ra những điều kiện, yếu tố thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp) và đời sống nông thôn (cung ứng các vật phẩm tiêu dung và tạo ra những điều kiện, yếu tố thuận lợi cho đời sống nông thôn) để cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn không ngừng phát triển. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ nói chung có một số đặc điểm sau đây: - Tính vô hình hay phi vật chất Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy, nếm, cẩm nhận… được trước khi mua chúng.
Để củng cố niềm tin cho khách hàng, người cung cấp dịch vụ có thể sử dụng những biện pháp cụ thể như: + Tăng tính hữu hình của dịch vụ (thông qua tranh ảnh, bản vẽ…) + Nhấn mạnh đến các lợi ích của dịch vụ + Đặt tên cho các hoạt động dịch vụ để tăng sự tín nhiệm + Tạo bầu không khí tin cậy (không gian, trang trí nội thất…) - Tính không thể phân chia Một dịch vụ được sản xuất ra và tiêu thụ đồng thời, trong khi sản phẩm vật chất có thể sản xuất ra, nhập kho rồi mới tiêu thụ. Sản phẩm dịch vụ không tách rời khỏi nguồn gốc cho dù là con người hay máy móc. Giữa người cung ứng dịch vụ và khách hàng có mối quan hệ đặc biệt, dựa trên niềm tin và chất lượng dịch vụ. - Tính không ổn định và khó xác định chất lượng Các dịch vụ rất không ổn định vì nó phụ thuộc vào người cung ứng, thời gian, địa điểm thực hiện dịch vụ đó.
Doanh nghiệp có thể kiểm tra chất lượng dịch vụ thông qua: + Đầu tư, đào tạo, tuyển chọn, những chuyên gia giỏi tương ứng với dịch 9 vụ. + Tiêu chuẩn hóa quá trình thực hiện dịch vụ trong toàn bộ phạm vi tổ chức (các quy trình kỹ thuật, các chỉ tiêu khống chế…) + Thường xuyên theo dõi mức độ hài lòng của khách hàng để sửa chữa sai lầm, hoặc nâng cao chất lượng những dịch vụ kém. - Tính không lưu giữ được Không thể lưu giữ được dịch vụ. Đặc tính này sẽ gây khó khăn đối với một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nếu như nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng thay đổi hoặc bị dao động.
Để hạn chế những khó khăn này, một số doanh nghiệp sử dụng chiến lược điều hòa cung cầu tốt nhất theo thời gian trong lĩnh vực dịch vụ. Cụ thể: + Về phía cầu: Việc định giá phân biệt sẽ chuyển một số nhu cầu ở lúc cao sang những lúc ngoài cao điểm. Có thể làm tăng nhu cầu ở thời kỳ suy giảm. Bổ sung dịch vụ môi giới ở thời gian nhu cầu cực đại.
Áp dụng hệ thống đặt hàng trước + Về phía cung: Huy động thêm nhân viên phục vụ vào giờ cao điểm. Quy định chế độ làm việc vào giờ cao điểm. Khuyến khích khách hàng tự phục vụ. Xây dựng các chương trình phối hợp để cung ứng dịch vụ.
Thi hành các biện pháp nâng cao năng lực hiện có [7]. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài những đặc điểm chung ở trên, dịch vụ nông nghiệp (DVNN) còn có những đặc điểm riêng như: + Hoạt động dịch vụ có tính thời vụ. Vì hoạt động tiếp nhận dịch vụ có 10 tính thời vụ nên bên cung cấp dịch vụ cũng phải cung cấp theo thời vụ. Do đó, nhu cầu dịch vụ tập trung tại những thời điểm nhất định, các đơn vị cung cấp dịch vụ phải huy động cao hơn mức bình thường của họ.
Đặc điểm này yêu cầu các doanh nghiệp dịch vụ phải tiên lượng được sự thay đổi để có kế hoạch kinh doanh phù hợp. + Hoạt động dịch vụ có trình tự theo quá trình sản xuất hoạt động kinh doanh. Mỗi một giai đoạn sản xuất kinh doanh nông nghiệp sẽ có nhu cầu sử dụng những dịch vụ khác nhau. Kết quả của khâu dịch vụ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và kết quả của khâu dịch vụ sau.
+ Khó xác định chính xác lượng dịch vụ. Vì thế cũng sẽ gây khó khăn trong việc đánh giá kết quả và công bằng giữa các người tiếp nhận dịch vụ. Sau thu hoạch, thậm chí sau khi tiêu thụ sản phẩm mới có thể đánh giá khách quan, chính xác hiệu quả cuối cùng của dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đặc điểm này yêu cầu các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phải dự đoán chính xác nhu cầu thị trường để hướng dẫn các hộ gia đình, các hợp tác xã sản xuất theo nhu cầu thị trường.
+ Mức độ huy động và sản xuất dịch vụ chịu tác động của các yếu tố tự nhiên [10]. + Các dịch vụ nông nghiệp diễn ra từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất trong nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sản xuất nông nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng trên thị trường. Đây cũng là yêu cầu đối với sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển cao và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp cung ứng dịch vụ nông nghiệp, một mặt, liên kết chuỗi các hoạt động tác nghiệp nhằm đem lại giá trị gia tăng cho khách hàng, mặt khác quan trọng hơn là liên kết các doanh nghiệp, các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như đơn vị sản xuất, chế biến, tài chính ngân hàng, hải quan, cơ quan bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh logistics… nhằm đem lại sự thỏa mãn nhu cầu ở mức cao nhất.
+ Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm thiết yếu đối với con người và dịch 11 vụ nông nghiệp cũng không thể thiếu được đối với sản xuất nông nghiệp. Bởi vậy, để phát triển sản xuất nông nghiệp thì cần phải tổ chức tốt các dịch vụ phục vụ nông nghiệp như cung ứng yếu tố đầu vào cây giống, thuốc trừ sâu, nước tưới, dịch vụ thu hoạch sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây là các dịch vụ không thể thiếu để giúp cho sản xuất nông nghiệp tiến hành nhịp nhàng, hiệu quả [7]. Phân loại - Phân loại dịch vụ nông nghiệp theo quá trình sản xuất nông nghiệp Theo quá trình sản xuất nông nghiệp, DVNN được phân ra: + Dịch vụ trước sản xuất nông nghiệp (dịch vụ vốn, vật tư, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học,…).
+ Dịch vụ trong quá trình sản xuất nông nghiệp (làm đất, gieo thẳng, bảo vệ thực vật, tưới tiêu, thú y,…). + Dịch vụ sau quá trình sản xuất nông nghiệp (vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ,…).