Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là một trong những thách thức môi trường và kinh tế - xã hội nghiêm trọng nhất trên phạm vi toàn cầu, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái tự nhiên, an ninh lương thực và các hoạt động sinh kế của con người. Tại Việt Nam, trong nhiều năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5 - 0,7°C, mực nước biển dâng khoảng 20 cm, lượng mưa có xu hướng biến đổi cực đoan khi gia tăng đột biến vào mùa mưa và suy giảm mạnh vào mùa khô. Những biểu hiện thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất và sương muối xuất hiện với tần suất ngày càng dày đặc, gây tổn thất lớn về kinh tế và đời sống dân sinh, đặc biệt là đối với các nhóm dân cư nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi cao.
Hà Giang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có sự phân hóa khí hậu rõ rệt theo mùa. Địa bàn tỉnh thường xuyên chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn cục bộ gây lũ bùn đá, sạt lở đất, mưa đá và rét hại. Xã Lũng Táo thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, là địa bàn vùng cao biên giới có điều kiện tự nhiên đặc thù với địa hình đồi núi đá vôi dốc, khả năng giữ nước mặt kém. Dân cư tại xã có đến 98% là đồng bào dân tộc Mông, đời sống và phương thức sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nương rẫy, tự cấp tự túc. Do địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt (nắng nóng gay gắt, rét đậm, rét hại kéo dài, tình trạng thiếu nước sinh hoạt và sản xuất trầm trọng trong mùa khô), cùng với hạn chế về nguồn vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm ứng phó thiên tai, sinh kế của người dân nơi đây rất dễ bị tổn thương trước các tác động bất lợi của BĐKH.
Xuất phát từ thực trạng trên, khóa luận "Nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu" được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện các tác động của BĐKH tới đời sống và sản xuất của người dân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng tác động của BĐKH đến đời sống và sinh hoạt, sản xuất của đồng bào dân tộc Mông tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của BĐKH và định hướng các hoạt động sinh kế phù hợp.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế và BĐKH.
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Thống kê diễn biến BĐKH trên địa bàn xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông trong bối cảnh BĐKH tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của BĐKH và cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc Mông tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế và các hiện tượng BĐKH ảnh hưởng đến sinh kế của đồng bào dân tộc Mông tại xã Lũng Táo.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; khảo sát chuyên sâu tại 3 xóm: Tua Ninh, Mò Só Tủng và Lũng Táo.
- Phạm vi thời gian: Quá trình khảo sát, thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019; chuỗi số liệu khí tượng và diễn biến thời tiết được tổng hợp trong giai đoạn 2008 - 2018; các số liệu thống kê kinh tế - xã hội được thu thập trong giai đoạn 2016 - 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các khung lý thuyết, khái niệm chuẩn mực quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật trong nước:
- Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID): Tiếp cận theo mô hình của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và lý thuyết của Chambers & Conway (1992), sinh kế bao gồm các năng lực, các tài sản (tự nhiên, vật chất, tài chính, con người, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống. Nghiên cứu tập trung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế của nông hộ trong bối cảnh dễ bị tổn thương do các cú sốc khí hậu.
- Khái niệm về BĐKH và các yếu tố khí tượng: Áp dụng định nghĩa của Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) và Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007) về sự biến đổi trạng thái khí hậu do hoạt động của con người và quá trình tự nhiên làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu.
- Cơ sở pháp lý và chính sách dân tộc: Áp dụng định nghĩa về dân tộc thiểu số theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc; vận dụng các chủ trương hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Chương trình 30a và Chương trình 135 của Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập, tổng hợp các báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu kiểm kê đất đai, báo cáo sản xuất nông - lâm nghiệp từ UBND xã Lũng Táo, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đồng Văn, số liệu khí tượng từ Trạm Khí tượng Thủy văn huyện Đồng Văn giai đoạn 2008 - 2018, cùng các tài liệu khoa học của Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT và các viện nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Quan sát trực tiếp: Quan sát có hệ thống về cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thủy lợi, kênh mương, hồ treo trữ nước, thực trạng canh tác nương đá và điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn xã.
- Điều tra, phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc: Bảng hỏi gồm 2 phần chính: Phần 1 thu thập thông tin nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, phân loại hộ); Phần 2 khảo sát điều kiện sản xuất kinh doanh, thống kê tài sản, các hoạt động sinh kế, mức độ tiếp cận thông tin thời tiết, thiệt hại do thiên tai và năng lực thích ứng của hộ.
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Áp dụng công thức Slovin với độ tin cậy 90% và sai số cho phép 10%, xác định quy mô mẫu điều tra là $n = 90$ hộ dân tộc Mông. Địa bàn chọn mẫu gồm 3 xóm đại diện cho các điều kiện địa hình và tập quán sản xuất của xã:
- Xóm Tua Ninh: 30 hộ
- Xóm Mò Só Tủng: 30 hộ
- Xóm Lũng Táo: 30 hộ
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu điều tra sơ cấp và thứ cấp được nhập liệu, làm sạch, xử lý và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel; sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và biểu diễn kết quả thông qua hệ thống bảng biểu, đồ thị so sánh.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh BĐKH toàn cầu tác động tiêu cực đến an ninh lương thực và tài nguyên đất đai tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực vùng cao núi đá Hà Giang. Xác định mục tiêu chung, 5 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại xã Lũng Táo. Khẳng định ý nghĩa học thuật trong việc vận dụng lý thuyết sinh kế vào thực tế và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp dữ liệu tham khảo cho chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch thích ứng BĐKH.
Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khí hậu, thời tiết, BĐKH, phân tích các nguyên nhân tự nhiên (chu kỳ bức xạ mặt trời, núi lửa) và nguyên nhân nhân tạo (đốt nhiên liệu hóa thạch, phá rừng, thay đổi mục đích sử dụng đất, phát thải chất thải công nghiệp, y tế, sinh hoạt). Làm rõ các biểu hiện của BĐKH như nhiệt độ gia tăng (nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng 0,5 - 0,7°C từ năm 1958 đến 2007), biến động lượng mưa cực đoan, mực nước biển dâng và tần suất thiên tai tăng cao.
Phân tích toàn diện tác động của BĐKH tới các ngành, lĩnh vực: sức khỏe con người (làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, cúm A, tiêu chảy), tài nguyên nước (suy thoái nguồn nước mặt, cạn kiệt nguồn nước ngầm), tài nguyên đất (xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa), nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng, giao thông vận tải và an ninh môi trường/quốc gia. Đồng thời, chương này tổng quan khung sinh kế bền vững DFID với 5 nguồn vốn (nhân lực, tự nhiên, xã hội, vật chất, tài chính); đặc điểm dân tộc học của người Mông (phân bố cư trú ở độ cao trên 1.000 m, các nhóm Mông Đơ, Mông Đu, Mông Lềnh, Mông Si, Mông Dua, Mông Xúa, Na Mẻo); cùng thực tiễn thiệt hại do BĐKH trên thế giới và tại Việt Nam.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là hoạt động sinh kế của đồng bào Mông và tác động của BĐKH tại xã Lũng Táo. Trình bày chi tiết 4 nội dung nghiên cứu chính. Quy định rõ phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp (quan sát thực địa, phỏng vấn 90 hộ bằng bảng hỏi tại 3 xóm: Tua Ninh, Mò Só Tủng, Lũng Táo theo công thức Slovin) cùng quy trình xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung vào 4 nhóm nội dung lớn:
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lũng Táo:
- Vị trí địa lý: Xã biên giới phía Bắc huyện Đồng Văn, cách trung tâm huyện 16 km; phía Bắc giáp Trung Quốc và xã Ma Lé; phía Đông giáp xã Thài Phìn Tủng; phía Nam giáp xã Sà Phìn; phía Tây giáp Trung Quốc. Địa hình núi cao, chia cắt mạnh, độ dốc lớn.
- Khí hậu: Mang sắc thái ôn đới/á nhiệt đới núi cao, chia 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (chiếm tỷ trọng lớn trong năm nhưng do địa hình đá vôi nên giữ nước kém, dễ gây sạt lở); mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (rét đậm, hanh khô, sương mù nhiều, lượng mưa rất ít gây thiếu nước nghiêm trọng; thi thoảng có mưa tuyết vào tháng 01). Nhiệt độ trung bình năm là 23,1°C (mùa hè 21,6°C, mùa đông 19,1°C; tổng nhiệt năm 8.480°C). Độ ẩm trung bình 84%. Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.400 - 1.500 giờ (mùa nóng 920 - 950 giờ, mùa lạnh 500 - 520 giờ). Gió yếu, tốc độ trung bình 1 - 1,5 m/s.
- Tài nguyên đất: Năm 2018, tổng diện tích đất tự nhiên là 2.085,98 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 88,59% (1.848,77 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 4,69% (97,8 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 6,72% (140,21 ha). Đất đai chủ yếu thuộc nhóm đất đỏ vàng feralit phát triển trên đá sét, đá macma axit, đá cát, đá vôi ($F_s, F_a, F_q, F_v$) và nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi ($H_s, H_q, H_a$).
- Tài nguyên nước: Nước mặt khan hiếm, phụ thuộc nước mưa tự nhiên; nước ngầm khó khai thác do cấu trúc địa chất karst. Người dân chủ yếu dựa vào các khe mạch nhỏ ở chân núi và bể trữ nước gia đình/hồ treo.
- Tình hình kinh tế: Trồng trọt là ngành chủ đạo với ngô là cây lương thực chính. Năm 2018, sản lượng ngô đạt 1.782,35 tấn (chiếm 62,71% tổng giá trị/sản lượng cây trồng), lúa đạt 179,1 tấn, đậu tương đạt 162,4 tấn, các loại rau đạt 557,64 tấn (giảm từ 690,3 tấn năm 2016 do sâu bệnh và giá cả bấp bênh), tam giác mạch đạt 30,5 tấn (tăng liên tục từ 21,6 tấn năm 2016 do phục vụ du lịch), cây ăn quả đạt 51,75 tấn. Chăn nuôi phát triển với đàn gia cầm/gà đạt trên 16.000 con năm 2018 (nhờ hỗ trợ từ Chương trình 30a, 135 và tiêm phòng dịch), đàn ngựa 43 con, trâu 47 con.
- Tình hình xã hội: Toàn xã có 735 hộ với 3.756 nhân khẩu phân bố tại 16 xóm (người Mông chiếm 98%, người Lô Lô chiếm 2%). Lực lượng lao động đạt 2.758 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 88,32% (2.436 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 11,68% (322 người). Trạm Y tế xã có 5 cán bộ (1 bác sĩ, 2 y sĩ định hướng, 1 y sĩ đa khoa, 1 hộ sinh), tổ chức khám chữa bệnh cho 2.763 lượt người. Trường Tiểu học và THCS có 56 cán bộ giáo viên với 699 học sinh; Trường Mầm non có 22 cán bộ giáo viên với 398 trẻ. Hạ tầng điện lưới quốc gia phủ 16/16 xóm với 4 trạm biến áp tổng công suất 480 kVA; hạ tầng giao thông liên thôn còn nhiều đường đất; kênh mương tại thôn Mã Sồ bị xuống cấp nghiêm trọng chưa có kinh phí sửa chữa.
Thống kê diễn biến BĐKH và thiệt hại tại địa phương:
Tổng hợp biến thiên nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm giai đoạn 2008 - 2018 ghi nhận sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm kéo dài gây chết gia súc, hạn hán làm mất mùa nương rẫy, mưa lớn gây sạt lở đất đá trên các sườn dốc.
Hoạt động sinh kế của hộ điều tra trong bối cảnh BĐKH:
Phân tích 5 nguồn lực sinh kế của 90 hộ khảo sát (nhân lực, đất nương rẫy, phương tiện sản xuất, nhà ở và thiết bị sinh hoạt). Đánh giá nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp, mức độ tiếp cận dự báo thời tiết qua truyền thanh/truyền hình, các yếu tố dịch hại, mức độ thiệt hại kinh tế và khả năng chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ khi đối mặt với thiên tai.
Đề xuất giải pháp:
Đưa ra 6 nhóm giải pháp thích ứng: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực; Giải pháp quản lý và sử dụng đất đai; Giải pháp kỹ thuật nông nghiệp (chuyển đổi giống cây trồng chịu hạn, chống rét, kỹ thuật canh tác trên đất dốc); Giải pháp hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi; Giải pháp tạo việc làm và đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp; Giải pháp giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính về thực trạng sinh kế và mức độ tổn thương của đồng bào Mông tại xã Lũng Táo. Đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với cấp ủy, chính quyền và đoàn thể địa phương (đầu tư hạ tầng nước sinh hoạt, nâng cấp kênh mương thủy lợi, hỗ trợ kỹ thuật và vốn sản xuất) và đối với người dân (chủ động gia cố chuồng trại, tích trữ thức ăn cho gia súc trong mùa đông, bảo vệ rừng phòng hộ và sử dụng nước tiết kiệm).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa và phản ánh thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên và sinh kế của đồng bào dân tộc Mông tại xã Lũng Táo thông qua hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết:
| Chỉ tiêu đất đai xã Lũng Táo (Năm 2018) |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
2.085,98 |
100,00 |
| I. Đất nông nghiệp |
1.848,77 |
88,59 |
| - Đất trồng ngô |
397,00 |
21,48 |
| - Đất trồng cây hàng năm khác |
272,00 |
14,72 |
| - Đất trồng cây lâu năm |
65,10 |
3,52 |
| - Đất rừng phòng hộ |
367,90 |
19,91 |
| - Đất rừng sản xuất |
714,77 |
38,68 |
| II. Đất phi nông nghiệp |
97,80 |
4,69 |
| - Đất ở nông thôn |
35,00 |
35,79 |
| - Đất sử dụng vào mục đích công cộng |
56,76 |
58,04 |
| - Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp |
2,01 |
2,06 |
| - Đất nghĩa trang, nghĩa địa |
1,13 |
1,15 |
| - Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng |
2,90 |
2,96 |
| III. Đất chưa sử dụng |
140,21 |
6,72 |
| - Đất đồi núi chưa sử dụng |
51,23 |
36,54 |
| - Núi đá không có rừng cây |
88,98 |
63,46 |
| Sản lượng cây trồng chính qua các năm |
Năm 2016 (Tấn) |
Năm 2017 (Tấn) |
Năm 2018 (Tấn) |
| Ngô |
- |
- |
1.782,35 |
| Lúa |
177,84 |
165,21 |
179,10 |
| Đậu tương |
164,90 |
155,10 |
162,40 |
| Các loại rau |
690,30 |
598,20 |
557,64 |
| Đậu các loại |
66,90 |
70,21 |
75,30 |
| Cây tam giác mạch |
21,60 |
23,10 |
30,50 |
| Cây ăn quả (lê, mận, đào, óc chó) |
45,00 |
50,00 |
51,75 |
| Cây lanh |
3,81 |
4,00 |
3,27 |
| Cơ cấu dân số và lao động xã Lũng Táo (Năm 2018) |
Đơn vị tính |
Số lượng |
Cơ cấu (%) |
| Tổng số nhân khẩu |
Người |
3.756 |
100,00 |
| - Nam |
Người |
1.965 |
52,32 |
| - Nữ |
Người |
1.791 |
47,68 |
| Tổng số hộ |
Hộ |
735 |
100,00 |
| - Hộ thuần nông nghiệp |
Hộ |
494 |
67,21 |
| - Hộ kiêm ngành nghề |
Hộ |
214 |
29,12 |
| - Hộ thương mại - dịch vụ |
Hộ |
27 |
3,67 |
| Tổng số lao động |
Người |
2.758 |
100,00 |
| - Lao động nông nghiệp |
Người |
2.436 |
88,32 |
| - Lao động phi nông nghiệp |
Người |
322 |
11,68 |
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bức tranh thực tế về mức độ phụ thuộc sinh kế của đồng bào Mông vào tài nguyên tự nhiên (ngô chiếm 62,71% giá trị trồng trọt, lao động nông nghiệp chiếm 88,32%).
- Chỉ rõ những điểm nghẽn hạ tầng và tài nguyên tại địa phương: tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô, 140,21 ha đất chưa sử dụng chủ yếu là núi đá trọc (88,98 ha), hệ thống thủy lợi xuống cấp (kênh mương Mã Sồ chưa được bố trí vốn tu sửa).
- Đề xuất 6 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa tri thức bản địa và các can thiệp kỹ thuật (giống chịu hạn, che chắn chuồng trại chống rét cho trâu bò/ngựa, chuyển đổi diện tích rau bị dịch bệnh sang tam giác mạch phục vụ du lịch Cao nguyên đá).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Khảo sát thực địa chỉ tiến hành trên phạm vi 1 xã (Lũng Táo) với dung lượng mẫu $n = 90$ hộ tại 3 xóm, thời gian điều tra thực tế trong 3 tháng (tháng 2 đến tháng 5 năm 2019), do đó chưa bao quát được toàn bộ các biến động sinh kế theo chu kỳ cả năm trên toàn địa bàn vùng cao nguyên đá Đồng Văn.
- Phương pháp xử lý dữ liệu chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả, phân tích bảng biểu và tần suất tỷ lệ, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích định lượng chuyên sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình hoặc chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index - LVI).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát liên xã trên địa bàn huyện Đồng Văn và các huyện lân cận thuộc Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn để so sánh đối chứng khả năng thích ứng sinh kế giữa các nhóm cộng đồng Mông ở các điều kiện vi khí hậu khác nhau.
- Nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả kinh tế và tính bền vững của các mô hình sinh kế mới (trồng tam giác mạch, phát triển cây ăn quả ôn đới mận/đào/lê/óc chó kết hợp dịch vụ du lịch trải nghiệm văn hóa dân tộc Mông).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên và Dân tộc học tham khảo phương pháp luận ứng dụng Khung sinh kế bền vững (DFID) vào nghiên cứu thực tiễn tại các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao.
- Cán bộ quản lý nhà nước, chính quyền địa phương cấp xã, huyện tại các tỉnh miền núi phía Bắc (đặc biệt là tỉnh Hà Giang) sử dụng làm cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia thích ứng với BĐKH.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Hệ thống số liệu chi tiết về cơ cấu đất đai (Bảng 4.1), cơ cấu cây trồng (Bảng 4.2), cơ cấu vật nuôi (Bảng 4.3) và nhân khẩu - lao động (Bảng 4.4) tại xã Lũng Táo.
- Quy trình thiết kế bảng hỏi và phương pháp chọn mẫu theo công thức Slovin trong nghiên cứu nông thôn miền núi.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận sử dụng công thức nào để xác định quy mô mẫu khảo sát và số lượng mẫu phân bổ ra sao?
Khóa luận áp dụng công thức Slovin với độ tin cậy 90% và sai số cho phép 10%, tính toán được quy mô mẫu $n = 90$ hộ. Mẫu được phân bổ đều cho 3 xóm có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống tại xã Lũng Táo: Xóm Tua Ninh (30 hộ), Xóm Mò Só Tủng (30 hộ) và Xóm Lũng Táo (30 hộ).
Cơ cấu sử dụng đất của xã Lũng Táo năm 2018 có đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2018, xã Lũng Táo có tổng diện tích tự nhiên là 2.085,98 ha. Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 88,59% (1.848,77 ha), trong đó diện tích rừng sản xuất chiếm 714,77 ha, rừng phòng hộ 367,9 ha và đất trồng ngô là 397 ha. Đất phi nông nghiệp chiếm 4,69% (97,8 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 6,72% (140,21 ha, gồm 88,98 ha núi đá không có rừng cây).
Đặc điểm lực lượng lao động tại xã Lũng Táo được ghi nhận như thế nào?
Năm 2018, toàn xã có 2.758 lao động trên tổng số 3.756 nhân khẩu (735 hộ). Lực lượng lao động nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 2.436 người (88,32%), trong khi lao động phi nông nghiệp chỉ có 322 người (11,68%). Toàn xã có 494 hộ thuần nông (67,21%), 214 hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề khác (29,12%) và chỉ có 27 hộ chuyên kinh doanh thương mại - dịch vụ (3,67%).
Sản lượng các cây trồng chủ lực của xã Lũng Táo biến động như thế nào trong giai đoạn 2016 - 2018?
Ngô là cây trồng chiếm sản lượng lớn nhất (năm 2018 đạt 1.782,35 tấn, chiếm 62,71% tổng sản lượng trồng trọt). Sản lượng rau các loại giảm rõ rệt từ 690,3 tấn (năm 2016) xuống 598,2 tấn (năm 2017) và còn 557,64 tấn (năm 2018) do dịch bệnh và thị trường tiêu thụ bấp bênh. Ngược lại, cây tam giác mạch có xu hướng tăng từ 21,6 tấn (2016) lên 23,1 tấn (2017) và đạt 30,5 tấn (2018) do người dân chuyển đổi cây trồng gắn với phục vụ du lịch.
Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp chính nào để cải thiện sinh kế thích ứng với BĐKH?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (2) Quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất dốc; (3) Áp dụng kỹ thuật nông lâm nghiệp thích ứng (chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi chống chịu thời tiết); (4) Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi; (5) Tạo việc làm và đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp; (6) Đẩy mạnh giáo dục và truyền thông về BĐKH cho cộng đồng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Dinh Thị Chúa đã phản ánh toàn diện thực trạng các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang dưới tác động của biến đổi khí hậu và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt vùng cao nguyên đá. Thông qua việc kết hợp số liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2008 - 2018 và điều tra sơ cấp 90 hộ dân, nghiên cứu đã chỉ rõ sự phụ thuộc lớn của người dân vào canh tác nương rẫy độc canh cây ngô cùng các tổn thương do hạn hán, rét hại và thiếu nước sinh hoạt gây ra. Các giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ về kỹ thuật canh tác, tín dụng, hạ tầng thủy lợi và truyền thông, cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ định hướng phát triển sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.