MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung đề tài Trong những năm gần đây, BĐKH đã và đang trở thành một trong những vấn đề hết sức nghiêm trọng trên toàn thế giới. Hậu quả của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sinh kế và an ninh lương thực quốc gia. BĐKH không chỉ tác động đến con người mà còn đe dọa đến HST tự nhiên và môi trường xung quanh.
BĐKH trên toàn cầu gây ra sự nóng lên của Trái Đất, kéo theo đó là băng tan, nước biển dâng cao, mưa bão, lũ lụt, động đất, sóng thần, hạn hán,. kèm theo các hiện tượng thời tiết cực đoan (lũ quét, lũ ống, sương muối,. Các hiện tượng thời tiết cực đoan này xảy ra bất thường với tần suất nhiều hơn. Bên cạnh đó BĐKH còn làm suy thoái nghiêm trọng đến chất lượng đất, đặc biệt là đất dùng trong nông nghiệp và lâm nghiệp làm đất mất dần độ phì nhiêu, đất đồi núi trở nên nghèo, khô cằn, chua, rắn gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và đa dạng sinh học.
Trong nhiều năm qua nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam tăng khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước cũng biển dâng khoảng 20cm, lượng mưa tăng đột biến vào mùa mưa và giảm dần vào mùa khô [15]. Lũ lụt thường xuyên xảy ra với cường độ lớn gây thiệt hại nặng nề về người và của. Hạn hán xảy ra thường xuyên ở hầu hết các khu vực trên cả nước vào mùa khô. Ảnh hưởng nghiêm trong đến hoạt động sản xuất và an sinh của người dân.
Đặc biệt đối với nhóm người nghèo, hộ dân tộc thiểu số nơi vùng xâu vùng xa, vùng nông thôn làm cho cuộc sống người dân ngày càng trở nên khó khăn hơn. Hà Giang là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, Hà Giang có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt về nhiệt độ, lượng mưa và độ h 2 dài ngày và đêm. Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện những biểu hiện của BĐKH như các đợt mưa với cường độ lớn gây lũ quét, lũ bùn đất, sạt lở, mưa đá,. làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất nông nghiệp và hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt là nhóm đồng bào dân tộc thiểu số.
Lũng Táo là một xã thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi tập chung chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông. Trong những năm gần đây trên địa bàn xã đã thường xuyên gặp một số hiện tượng thời tiết cực đoan như: Giá rét, lũ quét gây sạt lở đất, hoặc xuất hiện nắng nóng kỉ lục, gió lốc làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân cũng như trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số khi điều kiện sống còn nhiều khó khăn, kinh nghiệm trong ứng phó với BĐKH còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang trong bối cảnh BĐKH”. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn xã Lũng Táo và nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng về những tác động của BĐKH đến đời sống và sinh hoạt sản xuất của đồng bào dân tộc Mông tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Từ đó, đề xuất một số giải pháp để hạn chế được những tác động tiêu cực của BĐKH và đưa ra những hoạt động sinh kế phù hợp với đồng bào dân tộc Mông tại địa phương trong bối cảnh BĐKH.2 Mục tiêu cụ thể. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế và BĐKH.
h 3 - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. - Thống kê được diễn biến BĐKH tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. - Tìm hiểu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông trong bối cảnh BĐKH tại địa bàn xã. - Đề xuất một số giải pháp hạn chế những tác động của BĐKH tới đời sống của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn xã nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khóa học. - Giúp sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác sau này.
Ý nghĩa thực tiễn. - Khóa luận được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương nhằm giải quyết và sinh kế của người dân trong bối cảnh BĐKH. - Đánh giá được đúng thực trạng về hoạt động sinh kế của người dân khi chịu ảnh hưởng của BĐKH. - Đưa ra được những định hướng phát triển các hoạt động sinh kế thông qua nghiên cứu thực tiễn tại địa phương.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề cơ bảng về BĐKH. Khái niệm khí hậu, thời tiết và BĐKH. Trong thực tế có rất nhiều khái niệm về khí hậu, thời tiết và BĐKH nhưng khái niệm được quan tâm và hay sử dụng là khái niệm dưới đây: Khái niệm khí hậu: Là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó, trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục, hoăc trung phạm vi toàn cầu trên cơ sở một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên).[11] Khái niệm thời tiết: Là trạng thái khí quyển tại một thời điểm nhất định, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: Nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tố độc, gió, mưa.
Các hiện tượng nắng, gió, mưa, mây, nóng, lạnh,.thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày, từng tháng, từng năm. Thời tiết có thể dự báo được hàng ngày, hàng giờ, hay dài hơn đến một tuần.[14] Khái niệm BĐKH: - Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về BĐKH: “BĐKH là những ảnh hưởng có hại của BĐKH, là những biến đổi về môi trường vật lý hay sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể thành phần, khả năng phục hồi, hoặc sinh sản của các HST tự nhiên và được quản lý, hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, hoặc đến sức khỏe, hoặc phúc lợi của con người.[15] - Theo Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH: Là những cái thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi do hoạt động của con người gây ra. BĐKH xuất phát từ những thay đổi cán cân năng lượng của Trái Đất do thay đổi nồng độ hiệu ứng nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời” (IPCC,2007).[12] h 5 - BĐKH là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sự thay đổi thành phần của khí hậu, khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kì có thể so sánh được. Nguyên nhân BĐKH.
* Nguyên nhân do tự nhiên. - Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên gồm thay đổi cường độ ánh sáng của Mặt Trời, xuất hiện các điểm đen Mặt Trời (sunsport), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái đất. - Có thế thấy rằng các nguyên nhận gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần nhỏ vào sự BĐKH và có chu kì kể từ quá khứ đến hiện tại. Theo các kết quả nghiên cứu và công bố Uỷ Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người.[16] * Nguyên nhân do các hoạt động của con người: - Ðã có các nghiên cứu chuyên sâu chứng minh rằng nhiệt độ Trái đất tăng lên nhanh chóng hơn nửa thế kỷ qua chủ yếu do các hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ,.) phục vụ cho các hoạt động công nghiệp, giao thông vân tải,.
và thay đổi mục đích sử dụng đất (thay đổi albedo bề mặt đất) bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng. Ngoài ra các chất thải cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chất thải được chia làm 3 loại: + Chất thải công nghiệp, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt. Chất thải công nghiệp là những chất thải do nhà máy, xí nghiệp thải ra trong quá trình hoạt động như axit, kiềm, hoá chất độc của nhà máy hoá chất gây ô nhiễm đất và nguồn nước, bụi của các xí nghiệp sản xuất xi măng, chất thải h 6 trong giao thông vận tải gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người dân. + Chất thải y tế là các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế do các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh và nghiên cứu.
Nếu những chất thải này không được tiêu huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người. + Chất thải sinh hoạt bao gồm các loại rác thải do sinh hoạt hàng ngày của con người như túi nilon, vật liệu đóng gói, đồ hộp, thức ăn dư thừa của người và gia súc, xác súc vật chết. Đặc biệt các túi nilon có thể tồn tại nhiều năm không phân huỷ, gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường. - Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người như: Sử dụng thái quá nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón các loại hóa chất bảo vệ thực vật và sinh hoạt, thuốc trừ sâu, sản phẩm sau thu hoạch, khai thác sử dụng đất, rừng, chăn nuôi gia súc, khai thác và sử dụng tài nguyên nước.
Biểu hiện của BĐKH. BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Đã và đang gây ra những biến đổi mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường điển hình như: - Nhiệt độ trung bình tăng: Theo Thông báo quốc gia lần gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kể từ năm 1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5 - 0,70C. Nhiệt độ trung bình mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam.
Cụ thể như năm 2007 nhiệt độ trung bình cả năm tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931- 1940 là 0,8 - 1,30C; cao hơn thập kỷ 1990 - 2000 là 0,4 - 0,50C.