MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay sự gia tăng về dân số thế giới cũng như Việt Nam, kéo theo nhu cầu gia tăng về lương thực thực phẩm, cụ thể là cung cấp trong các bữa ăn hàng ngày, rau là thực phẩm không thể thiếu, là nguồn thức ăn bổ dưỡng nuôi sống con người, cung cấp một lượng lớn sinh tố A, B, C, …, còn cung cấp một phần các nguyên tố vi, đa lượng, rất cần thiết trong cấu tạo tế bào, rau còn là nguồn dược liệu quý bảo vệ sức khỏe con người. Trước nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao người làm nông nghiệp đẩy mạnh nâng cao năng suất nhưng chưa chú trọng đến chất lượng, độ an toàn của thực phẩm, và việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật đã làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, ngoài ra các sản phẩm nông nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi các nguồn chất thái của các nhà máy xí nghiệp, khu công nghiệp và nước thải đô thị, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Thái Nguyên là một trung tâm công nghiệp ở khu vực phía Bắc Việt Nam.
Ở đây tập trung các nhà máy xí nghiệp lớn nhỏ của đất nước. Với mật độ dân số đông, đây là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Từ nhiều năm nay Thành phố đã hình thành vành đai sản xuất thực phẩm trong đó cây rau được coi là sản phẩm quan trọng nhất. Cùng với sự tăng trưởng nông nghiệp nói chung, sản xuất rau Thái Nguyên đã đáp ứng được nhu cầu về số lượng, khắc phục dần tình trạng giáp vụ, nhiều chủng loại rau chất lượng cao đã được bổ sung trong bữa ăn hàng ngày của người dân.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu lớn trên các lĩnh vực, trong đó sản xuất rau có bước tăng trưởng không ngừng cả về diện tích, chủng loại và sản lượng cung cấp trên thị trường. Riêng năm 2010, toàn tỉnh đã trồng được 8.925 ha rau các loại, tăng gần 1.900 ha so với năm 2005. Các loại rau được đưa vào trồng chủ yếu là su hào, cải các loại, bí xanh, súp lơ, rau thơm, rau muống, dưa chuột, cà chua…. Năng suất rau đạt 156,3 tạ/ha/năm, sản lượng đạt gần 140 nghìn tấn, tăng hơn 50 nghìn tấn so với 5 năm trước.
Với sản lượng ngày càng tăng như hiện nay, thu nhập từ rau đã góp phần nâng cao đời sống cho nhiều hộ nông dân. Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng Đề án Phát triển rau an toàn (RAT) giai đoạn 2008 - 2015 và TP. Thái Nguyên, địa bàn tiêu thụ rau xanh chủ yếu của tỉnh đã xây dựng đề án về phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT. Theo đó, thành phố hỗ trợ người trồng rau 40% chi phí ban đầu để trồng RAT.
Bên cạnh đó, khu vực vệ tinh thuộc 2 các huyện: Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên cũng hình thành những nơi trồng và cung cấp RAT cho TP. Tuy nhiên để tăng năng suất cây trồng, người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học, chất kích thích sinh trưởng ngày càng nhiều, gây ô nhiễm vùng canh tác làm cho rau bị nhiễm bẩn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dùng. Thái Nguyên còn là nơi tập trung nhiều nhà máy xí nghiệp lớn, như Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn …., vì vậy lượng chất thải đổ ra môi trường từ các nhà máy là rất lớn. Có thể nói môi trường đất, nước mặt ở thành phố Thái Nguyên đã và đang bị ô nhiễm nặng nề bởi các hoá chất độc hại từ các nguồn thải công nghiệp, nông nghiệp và phế thải đô thị….
Xu hướng ô nhiễm có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng, diện tích nếu không có biện pháp xử lý triệt để và đó là một trong những nguyên nhân thu hẹp dần vùng trồng rau sạch của thành phố. Chính vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường sản xuất, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm đất, nguồn nước để định hướng cho phát triển vùng rau an toàn của Thành phố Thái Nguyên là một việc hết sức quan trọng và cần thiết để góp phần đưa ngành sản xuất rau của Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung tiến đến một nền nông nghiệp sạch bền vững. Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo GS. Nguyễn Thế Đặng, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất rau tới môi trường đất, nước và sức khoẻ người sản xuất tại khu vực chuyên canh rau Đồng Bẩm thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khu vực sản xuất rau Đồng Bẩm của Thành phố Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại khu vực sản xuất rau Đồng Bẩmcủa Thành phố Thái Nguyên. - Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Đồng Bẩm tác động đến sản xuất rau.
3 - Đánh giá thực trạng sản xuấtrau tại xã Đồng Bẩm. - Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khu vực sản xuất rau xã Đồng Bẩm. - Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại khu vực sản xuất rau xã Đồng Bẩm. - Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đóng góp về mặt lý luận cho việc giải thích các mối tương quan giữa hàm lượng các kim loại nặng trong đất, trong nước và những ảnh hưởng đến sức khoẻ người sản xuất rau. - Đối với các sinh viên và các nhà nghiên cứu nghiên cứu này sẽ phục vụ như là tài liệu tham khảo để nghiên cứu thêm về hàm lượng kim loại nặng trong đất trồng, nước tưới trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và là cơ sở để nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng trong đất, nước của các vùng trên cả nước nói chung. Ý nghĩa thực tiễn - Đưa ra những dẫn liệu cơ bản về tình hình ô nhiễm đất trồng, nước tưới ở khu vực chuyên canh rau của thành phố Thái Nguyên.
- Những phát hiện của nghiên cứu sẽ giúp các nông dân sử dụng tỷ lệ phân bón hợp lý và lựa chọn nước tưới cho rau quả để tăng năng suất, chất lượng của rau quả để tạo ra sản phẩm an toàn, nông nghiệp theo hướng sạch và bền vững. - Kết quả của nghiên cứu này sẽ được giúp đỡ rất nhiều cho nông dân và cơ quan chức năng trong việc tạo ra hiệu quả hơn để lập kế hoạch theo định hướng sản xuất rau an toàn. - Đề xuất một số giải pháp tổ chức sản xuất rau an toàn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Một số khái niệm liên quan: * Môi trường: Theo khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm (2005), “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. * Tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”. * Đánh giá tác động môi trường: Theo khoản 20, Điều 3, Luật Bảo về môi trường Việt Nam năm (2005), “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án được đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”.
* Quan trắc môi trường: Theo khoản 17, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường”. * Nước mặt: Theo khoản 2, Điều 3, Luật tài nguyên nước (1998), “Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo”. * Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. * Ô nhiễm nguồn nước: “ Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép”.
* Khái niệm rau an toàn Lâu nay, người tiêu dùng đã quen với cụm từ “RAT”. Nhưng, thế ào là RAT, chắc hẳn không nhiều người tường tận. Chúng ta cần phân biệt ba loại rau: Rau đại trà, RAT và rau sạch. 5 - Rau đại trà: Là các loại rau đang sử dụng truyền thống, được tổ chức sản xuất theo các tập quán khác nhau từng địa phương, không có quy trình thống nhất và chất lượng cũng rất khác nhau.
- Rau an toàn (RAT): Có hai quan điểm về RAT + Theo quyết định 106/2007 của Bộ NN & PTNT, RAT là những sản phẩm rau tươi được sản xuất, thu hoạch, sơ chế phù hợp quy trình sản xuất RAT, gồm các loại rau ăn: lá, thân , củ, hoa, quả, hạt, rau mầm, nấm thực phẩm. Đồng thời, RAT được sản xuất từ đất trồng, nguồn nước, môi trường, dinh dưỡng.tất cả đều phải sạch và đúng quy trình (GAP). + Theo các chuyên gia, RAT là loại rau mà ngay từ khâu gieo trồng không bị bón phân đạm, hoặc bón rất ít phân đạm để tránh ô nhiễm muối NO3-, thay vào đó phải bón phân vô cơ như phân chuồng, phân bắc ủ hoai.