mở đầu và kết thúc bởi sản phẩm. Sản phẩm là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, giữa cung và cầu trên thị trường do đó khi tiếp cận thị trường thì sản phẩm là một công cụ có tác động mạnh mẽ nhất. Cạnh tranh về phân phối bán hàng Phân phối, bán hàng là một trong những công cụ Marketing và là một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp khách sạn. Cạnh tranh về phân phối bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau: Khả năng đa dạng hóa các kênh và lựa chọn các kênh chủ lực.
Điều này có được là do mối quan hệ của khách sạn với các nhà cung cấp khách và uy tín của khách sạn đối với các công ty lữ hành. Khách sạn có một hệ thống các danh mục kinh doanh và mỗi danh mục này lại có hệ thống dịch vụ của mình. Do đó bất cứ doanh nghiệp khách sạn nào cũng có một chuỗi sản phẩm trên thị trường. Việc quyết định kênh phân phối không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của khách sạn mà còn giúp khách sạn tối thiểu hóa chi phí.
Chính các nhà cung cấp và khách hàng là những người Marketing đáng tin cậy và một khách hàng trung thành Cạnh tranh về thương hiệu Tạo lập thương hiệu là phương thức cạnh tranh hiệu quả nhất đối với bất cứ một doanh nghiệp nào. Một khách sạn có thương hiệu tức là khách sạn đã tạo ra sự nhận biết và mong muốn cho khách hàng của mình về sản phẩm dịch vụ khách sạn. 8 Có thể nói thương hiệu là tài sản quý giá nhất của khách sạn. Đây là một tài sản vô hình nhưng có giá trị vô cùng to lớn nhất là đối với doanh nghiệp khách sạn.
Khách của khách sạn là những người từ nơi khác đến, họ chưa tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của khách sạn do đó thương hiệu khách sạn là tiêu chí đầu tiên để họ lựa chọn. Tuy nhiên không phải bất cứ khách sạn nào cũng có thương hiệu. Tất cả các khách sạn đều có nhãn hiệu nhưng để nhãn hiệu trở thành thương hiệu nó phải trải qua một quá trình dài, được khách hàng công nhận và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Một khách sạn có thương hiệu mạnh sẽ là một khách sạn có năng lực cạnh tranh lớn, có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với đối thủ cạnh tranh.Porter, NLCT phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm.
Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế của mình để đạt thắng lợi trong cạnh tranh. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh: - Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động thường được xem là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh. - Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho khách hàng, giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm.
Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ. Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4 tiêu chí-Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm, tính cạnh tranh về giá cả, khả năng thâm nhập thị trường mới, khả năng khuyến mại, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanh ngày càng phong phú hơn. Cạnh tranh về thương hiệu còn tạo ra sự trung thành từ phía khách hàng. Khách hàng sẽ dễ dàng chọn mua một sản phẩm nổi tiếng.
Do đó thương hiệu không chỉ là công cụ để khách sạn giữ chân khách hàng truyền thống mà còn thu hút khách hàng mới cho khách sạn. Trong môi trường cạnh tranh, để giữ gìn thương hiệu và nâng cao khả năng thu hút khách thì vấn đề quan trọng nhất là nâng cao chất 9 lượng dịch vụ. Thương hiệu là một công cụ hữu hiệu do đó khách sạn cần phải duy trì thương hiệu và sử dụng nó như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu.3 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là sở hữu các giá trị đặc thù, được sử dụng để tận dụng cơ hội, để kinh doanh có lời. Khi nói tới lợi thế cạnh tranh, ta có thể hiểu là lợi thế mà một doanh nghiệp đang có so với các đối thủ cạnh tranh của mình.
Theo Michael E Porter: lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ như về chất lượng, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ… kiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn hoặc việc tập trung vào một phân khúc thị trường hay nhiều thị trường để phát triển. Năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… 10 Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.2 Vị thế cạnh tranh Vị thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn.
để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng. Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.
11 Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại.) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái. Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Con người luôn là yếu tố quan trọng và quyết định nhất đối với hoạt động của mọi doanh nghiệp. Yếu tố con người bao trùm lên toàn bộ mọi hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua khả năng, trình độ, ý thức của đội ngũ quản lý và người lao động.
Đội ngũ lao động tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự sáng tạo…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Đội ngũ lao động của doanh nghiệp khách sạn có trình độ cao, biết các tiêu chuẩn dịch vụ, các sản phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ. Nó sẽ tác động tới giá của dịch vụ và thông qua đó khách sạn sẽ có nhiều lựa chọn khi định giá dịch vụ tạo lợi thế về cạnh tranh cho doanh nghiệp. Ta xem xét tác động môi trường cạnh tranh ngành đến doanh nghiệp thông qua mô hình 5 áp lực cạnh tranh đến doanh nghiệp của M.1 Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của M.
Áp lực cạnh tranh từ phía khách hàng. Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng không chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả những khách hàng tiềm ẩn.