CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Theo PGS.TS Ngô Kim Thanh thì “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn”. Như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đây là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp. một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Đối với lĩnh vực ngân hàng, tài chính, có thể nói năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được hiểu như sau: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Nhìn chung năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được xem xét thông qua khả năng tạo và duy trì lợi nhuận thị phần nhất định trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thể hiện thành các lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh khác nhưng lợi thế đó không phải bất biến. Điều đó phụ thuộc vào mỗi ngân hàng trong vi ệc thường xuyên duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh. Lý thuyết và các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Mô hình SWOT Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào.
Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ. Trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy những cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu với một ngân hàng như sau: Cơ hội: - Cải cách ngân hàng sẽ được thúc đẩy nhanh hơn nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng đáp ứng được những thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc tăng quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo hoạt động của các ngân hàng theo các nguyên tắc thị trường. - Các ngân hàng nước ngoài với cơ sở vững chắc về vốn và công nghệ sẽ luôn quan tâm tới việc hình thành quan hệ đối tác chiến lược nên mở ra cơ hội cho các ngân hàng của Việt Nam có điều kiện trao đổi, hợp tác tiếp cận công nghệ và tận dụng những kinh nghiệm chuyên sâu hơn về các nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản lý tài sản nợ có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới.
- Việc áp dụng công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại được tăng cường tạo thêm sự phát triển các sản phẩm chuyên sâu như E-Banking, Mobile-Banking, Internet Banking. 6 - Số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng. Đây là thành phần kinh tế quan trọng, có thể nói là năng động nhất của nền kinh tế và cũng là thành phần kinh tế mà các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm tới. - Có được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía Ngân hàng Trung ương.
Thách thức: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp trong nước tự đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. Các tổ chức tài chính, ngân hàng nước ngoài mở rộng quy mô hoạt động khi các hạn chế được nới lỏng. - Các ngân hàng thương mại cổ phần khác là những đối thủ cạnh tranh chính. Các ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động có hiệu quả và cũng tiến hành tăng vốn, mở rộng hoạt động rất nhanh.
- Trong lĩnh vực huy động vốn, hiện nay các ngân hàng thương mại đang phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm, các công ty cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán về nguồn vốn trung và dài hạn. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm riêng lẻ hoặc hỗn hợp, hợp tác với các tổ chức tín dụng và phi tín dụng, cạnh tranh với các ngân hàng thương mại. Công ty tiết kiệm bưu điện, hệ thống kho bạc đang là các đối thủ cạnh tranh huy động vốn ngắn hạn, tài khoản tiền gửi và dịch vụ thanh toán. - Trong quá trình hội nhập quốc tế, cạnh tranh sẽ tăng lên từ các ngân hàng nước ngoài khi các hạn chế của Chính phủ Việt Nam được nới lỏng, việc mở cửa khu vực tài chính ngân hàng trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là khi ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập ở Việt Nam thay vì hình thức chi nhánh hiện nay.
Việc phải loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài có nghĩa là các ngân hàng này sẽ từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động tài chính ngân hàng tại Việt Nam. - Các vấn đề tồn tại về hệ thống pháp luật và các cơ chế thị trường còn chưa được giải quyết: Các ngân hàng Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khác khi hệ thống pháp luật trong nước còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập kinh tế về ngân hàng. 7 - Nguồn nhân lực luôn thiếu hụt do các đối thủ cạnh tranh thu hút: Các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần với cơ chế lương thưởng thông thoáng và chính sách thu hút, ưu đãi và phát triển nhân sự tốt đang và sẽ chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh này. - Mức độ phụ thuộc vào thị trường tài chính quốc tế tăng, nhất là về tỷ giá, lãi suất trong khi hệ thống và kinh nghiệm quản lý rủi ro còn chưa tốt, đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng cho được hệ thống quản trị rủi ro hoàn chỉnh theo các thông lệ quốc tế.
Điểm mạnh: - Hầu hết đều đang thực hiện hiện đại hóa ngân hàng. - Tình hình tài chính ổn định, tỷ lệ an toàn vốn cao - Ban lãnh đạo chuyên nghiệp - Cổ đông chiến lược có tiềm lực tài chính - Thương hiệu của Ngân hàng - Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Điểm yếu: - Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện đại, bộ máy quản lý cồng kềnh. - Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém - Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là tín dụng, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chính sách tiền lương chưa thỏa đáng, dễ dẫn đến chảy máu chất xám. - Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn diện của khách hàng. - Quy mô và địa bàn hoạt động chưa được lớn, thương hiệu yếu - Quy trình cấp tín dụng lỏng lẻo 8 1. Mô hình 5 nhân tố của Porter Theo Porter, có năm yếu tố tác động lên hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp thành: • Quyền mặc cả của khách hàng • Mối đe dọa của các đối thủ tiềm năng • Quyền mặc cả của nhà cung cấp • Mối đe dọa của những sản phẩm thay thế Đối thủ cạnh tranh tiềm năng Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài Các ngân hàng TMCP mới Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong Sức ép c ủa ngành Sức ép của người các mua nhà cung cấp Cạnh tranh về mức lãi suất Các nhà cung Sự nhạy cảm với cấp lớn về nguồn Thu nhập giá sản phẩm dịch vốn vụ mà NH đưa ra Công nghệ Sự khác biệt hóa về sản phẩm của NH Đe dọa của các sản phẩm thay thế Kênh đầu tư khác: Vàng, ngoại tệ, BĐS, chứng khoán Sản phẩm của các công ty tài chính Sơ đồ 1.1 Mô hình 5 nhân tố của Porter với một NHTM 9 ► Đối thủ cạnh tranh tiềm năng: Nhà nước tiếp tục cổ phần hoá các ngân hàng thương mại quốc doanh.
Các ngân hàng TMCP không ngừng tăng cường quy mô và năng lực hoạt động của mình bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, niêm yết trên thị trường chứng khoán, kêu gọi cổ đông nước ngoài để vừa thu hút vốn vừa tranh thủ tiếp cận công nghệ, trình độ quản lý. Tình hình cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng ngày càng khắc nghiệt hơn nhưng hiện nay chủ yếu vẫn là cạnh tranh bằng lãi suất và mạng lưới. Tương quan lợi thế giữa khối ngân hàng thương mại quốc doanh và ngoài quốc doanh dần được rút ngắn, thể hiện qua sự vươn lên của một số ngân hàng cổ phần và sự có mặt ngày càng nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Hệ thống ngân hàng chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các định chế tài chính khác: công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm.
Thời điểm hiện nay, ngành ngân hàng vẫn đang có sức hấp dẫn lớn đối với nhà đầu tư vì còn rất nhiều tiềm năng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vẫn được đánh giá là có sự tăng trưởng tương đối cao. Nếu nhìn vào mức lợi nhuận hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm, chắc hẳn ai cũng nghĩ rằng hoạt động của ngành ngân hàng vốn dĩ siêu lợi nhuận. Đặc biệt, khi nền kinh tế đang vào giai đoạn hậu suy giảm và ngành ngân hàng được cho là phục hồi sớm, nhiều ngân hàng cổ phần đã chia cổ tức mức cao, hấp dẫn khiến các tập đoàn, chủ đầu tư đua nhau lập ngân hàng mới, hứa hẹn sự cạnh tranh khốc liệt để dành thị phần trong nội bộ ngành ngân hàng.