CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG 1.1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ngày nay, vai trò của thông tin rất quan trọng, tri thức (tức thông tin đã được xử lý trở thành tri thức của con người) đã trở thành nhân tố hàng đầu của tăng trưởng kinh tế, vượt qua các nhân tố truyền thống là vốn, lao động và tài nguyên. Như chúng ta đã biết, tín dụng là một hoạt động truyền thống và đem lại nguồn thu nhập chính của NHTM. Vì vậy, hoạt động TTTD đóng vai trò rất lớn trong việc hạn chế rủi ro của NHTM, cung cấp cho các NHTM những thông tin về khách hàng vay vốn liên quan đến hồ sơ pháp lý, tình hình quan hệ tín dụng, tài sản thế chấp cầm cố.để NHTM đánh giá khách hàng của mình, sớm phát hiện ra các khách hàng xấu, từ đó hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Không những thế, hoạt động TTTD còn giúp nâng cao chất lượng tín dụng ở các NH, với việc chia sẻ thông tin tích cực đã tạo hiệu ứng đẩy giúp khách hàng tốt có nhiều cơ hội tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng với một mức lãi suất thấp hơn(do giảm chi phí tự điều tra thông tin).
Việc lựa chọn được khách hàng tốt giúp NHTM nâng cao chất lượng tín dụng và không bỏ lỡ thời cơ kinh doanh. Đồng thời còn giúp các NHTM mở rộng và tăng cường tín dụng hiệu quả từ việc thẩm định và quyết định cho vay đúng đã tạo điều kiện cho các NHTM nâng cao chất lượng khoản vay, hạn chế nợ quá hạn phát sinh. Tóm lại, hoạt động TTTD đóng 1 vài trò rất lớn đối với hoạt động của các NHTM. Dưới đây tôi sẽ đi tìm hiểu sâu hơn về tín dụng ngân hàng là gì, cơ chế hoạt động và nhu cầu cần thiết về TTTD của các NHTM: 6 1.1 Khái niệm thông tin tín dụng ngân hàng Khái niệm thông tin (information) đã xuất hiện từ lâu, m ặc dù việc nghiên cứu, ứng dụng thông tin và hệ thống thông tin đã có những bước phát triển như vũ bão, nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về thông tin.
Trong khoa học hiện đại, có ba khái niệm tổng quát nhất: năng lượng, vật chất và thông tin. Hai khái niệm đầu là hoàn toàn xác định, loài người đã biết mối quan hệ giữa năng lượng và vật chất thông qua một hệ thức nổi tiếng của Einstein E = mc2. Còn khái niệm và bản chất của thông tin thì vẫn đang là một một câu hỏi với khoa học hiện đại. Đã có rất nhiều nghiên cứu và đưa ra nhiều khái niệm.
Lê nin cho rằng “Thông tin là tính chất chỉ có ở vật chất được tổ chức cao, nó nảy sinh cùng với sự sống và đặc trưng cho thế giới hữu cơ, xã hội loài người và kỹ thuật mà con người tích luỹ được trong quá trình quản lý”. Một quan điểm khác thì cho rằng thông tin cũng như phản ánh, là một tính chất của đối tượng vật chất, sống cũng như không sống. Tiêu biểu cho nhóm này là GlouchKov, cho rằng “Thông tin theo cách hiểu tổng quát nhất là độ đo của tính không đồng đều trong phân bổ vật chất và năng lượng trong không gian và thời gian, độ đo của những thay đổi đi kèm mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ” Từ đây, với mục đích nghiên cứu về thông tin phục vụ quản lý kinh tế, chúng ta sẽ nghiên cứu và sử dụng khái niệm theo nghĩa hẹp như đã nói trên “Thông tin là dữ liệu đã được ghi lại, phân loại, tổ chức, liên kết hoặc diễn dịch bên trong một khuôn khổ thể hiện ý nghĩa. Dữ liệu bao gồm các sự kiện, vốn trở thành thông tin khi chúng được nhìn trong ngữ cảnh và ý nghĩa chuyển tải tới con người”.
Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ là tương đối, vì thông tin đối với người này lại có thể là dữ liệu đối với người khác và lại có thể là kiến thức của người khác nữa. 7 Với cách hiểu thông tin như vậy, sẽ là cơ sở để hiểu rõ hơn thế nào là thông tin tín dụng. Đến nay trên thế giới chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra một định nghĩa đầy đủ về TTTD và hoạt động TTTD. Theo NHNN VN (Quyết định số 51) có đưa ra khái niệm: “Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng và các thông tin khác liên quan đến khách hàng trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng”.
Khái niệm này như chúng ta đã biết hoạt động tín dụng Ngân hàng là hoạt động cho vay giữa NHTM với khách hàng của mình ( doanh nghiệp và cá nhân), vì vậy TTTD phỉa là những dữ liệu liên quan đến khách hàng có quan hệ với các TCTD. Từ đó có thể đưa ra khái niệm “ TTTD là dữ liệu được ghi lại, phân loại vầ khách hàng có liên quan đến hoạt động tín dụng của các TCTD” 1.2 Nội dung của hoạt động thông tin tín dụng Theo Quyết định 51/2007/QĐ-NHNN ngày 31/12/12007 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế hoạt động thông tin tín dụng có đưa ra khái niệm: “Hoạt động TTTD là việc thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp, khai thác sử dụng TTTD” Từ khái niệm này, có thể thấy quá trình tập hợp hoạt động TTTD là ghi lại , phân loại, tổ chức, liên kết từ KH có quan hệ tín dụng với các TCTD. Hoạt động TTTD bao gồm nhiều hoạt động gắn kết hình thành nên một quy chế hoạt động, cụ thể như sau: 1.1 Thu thập thông tin Bộ phận thu thập có chức năng thu thập thông tin về tài chính, phi tài chính của khách hàng vay và các thông tin kinh tế, thị trường có liên quan đến hoạt động tín dụng từ các nguồn trong nội bộ hệ thống ngân hàng và từ các nguồn ngoài ngành. Một số vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc thu thập 8 thông tin, dữ liệu như nguồn thông tin, cơ sở pháp lý của việc thu thập, trách nhiệm của nguồn tin và phí thu thập thông tin chi tiết như sau: Nguồn thông tin, cơ sở pháp lý của việc thu thập tin Thông tin đầu vào của hệ thống TTTD ngân hàng có ở rất nhiều các tổ chức khác nhau như từ các NHTM, cơ quan của chính phủ và các cơ quan thông tin khác, hoặc từ DN.
Về lý thuyết, cơ quan TTTD có thể thu thập thông tin một cách hợp pháp từ các nguồn sau: - Từ cơ quan chính phủ: cơ quan thành lập DN, cấp giấy phép kinh doanh, thuế, toà án, kiểm toán, công an.Việc thu thập được thực hiện theo luật thông tin. - Từ các NHTM nơi khách hàng mở tài khoản theo luật ngân hàng hoặc luật thông tin. - Từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng, từ DN theo quy định của luật thông tin và quy định về phạm vi chia sẻ thông tin, hoặc theo sự thoả thuận. - Từ các phương tiện thông tin đại chúng: sách, báo, tạp chí và các ấn phẩm thông tin.là các nguồn tin công khai.
- Từ các cơ quan thông tin trong và ngoài nước, theo thoả thuận hoặc hợp đồng trao đổi thông tin phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trách nhiệm của nguồn tin và phí thu thập thông tin Dựa trên cơ sở pháp lý của việc thu tin, nguồn tin phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan TTTD theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Thông tin cung cấp phải bảo đảm trung thực, chính xác, kịp thời, nguồn tin phải chịu trách nhiệm về các thông tin của mình. Nguồn cung cấp tin có thể được hưởng phí tạo lập dữ liệu theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2 Xử lý thông tin Bộ phận xử lý có chức năng sàng lọc thông tin, tập hợp thông tin theo các tiêu thức khác nhau như theo ngân hàng, theo khách hàng, theo ngành 9 nghề, thành phần kinh tế, theo vùng miền.đồng thời thực hiện phân tích đánh giá khách hàng vay.
Đây chính là quá trình sản xuất chế biến thông tin để đưa ra các sản phẩm thông tin tuỳ theo yêu cầu khác nhau của người sử dụng trên cơ sở các dữ liệu mà hệ thống đã thu thập được. Đây là bộ phận tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm TTTD, bởi vì từ các dữ liệu là các sự kiện rời rạc, chưa có ý nghĩa rõ ràng thì thông qua xử lý, phân tích, tổng hợp sẽ tạo ra được những thông tin thực sự có giá trị cho hoạt động tín dụng. Xử lý, phân tích thông tin là khâu quan trọng, quyết định đến chất lượng thông tin cung cấp ra. Cùng những dữ liệu đầu vào như nhau nhưng do xử lý tốt thì có thể tạo ra nhiều sản phẩm thông tin khác nhau có giá trị với người sử dụng.
Trong khâu xử lý thông tin có các nội dung quan trọng là kiểm tra thông tin đầu vào; phân tích, tổng hợp thông tin để tạo các báo cáo thông tin; xếp loại tín dụng đối với DN; chấm điểm tín dụng đối với khách hàng cá nhân. Trong đó, kiểm tra thông tin vào gồm cả kiểm tra nguồn xác thực và tính chính xác, đúng đắn của dữ liệu thu thập được, tránh hiện tượng sai sót ngay từ khâu thông tin đầu vào. Việc kiểm tra, xử lý, phân tích cần kết hợp bằng máy tính và bằng phương pháp chuyên gia. Việc phân tích, tổng hợp thông tin để tạo các báo cáo thông tin thường phải chú trọng đi vào phân tích tình hình hoạt động của khách hàng, từ đó đưa ra đánh giá về khả năng rủi ro của khách hàng theo từng thời kỳ; phân tích chất lượng tín dụng của khoản vay, xếp loại khoản vay theo định kỳ, đưa ra những cảnh báo sớm đối với các khoản vay có vấn đề; phân tích chất lượng tín dụng của từng NHTM và toàn hệ thống ngân hàng đưa ra những đánh giá, dự báo về chất lượng tín dụng từng thời kỳ; phân tích tình hình kinh tế thị trường, kinh tế vĩ mô trong nước, khu vực và quốc tế có liên quan đến hoạt động dịch vụ ngân hàng; phân tích hoạt động tín dụng theo ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế, theo lãnh thổ.3 Lưu trữ thông tin Bộ phận lưu trữ có chức năng như một ngân hàng dữ liệu về khách hàng vay của từng ngân hàng hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng.