CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm NHTM NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng, ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế, xã hội và ngược lại. Theo Điều 20 Khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng (12/12/1997) cho biết NHTM là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/07/2009 qui định: "NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
Theo Điều 4 Khoản 2 và 3 Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung ngày 16/06/2010): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo qui định. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương 4 mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo qui định nhằm mục tiêu lợi nhuận [16]. Như vậy, có thể nói NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Chức năng chủ yếu của NHTM 1.1 Chức năng trung gian tín dụng Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội đã phát sinh ra mâu thuẫn giữa hiện tượng vốn tiền tệ nhàn rỗi ở chủ thể kinh tế này, trong khi chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung. Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các chủ thể gặp nhiều hạn chế vì nhu cầu của các chủ thể khó có thể trùng nhau về khối lượng, thời gian tín dụng. Hơn nữa, giữa họ khó có đủ sự tin tưởng để thực hiện quan hệ chuyển nhượng vốn cho nhau. Ngân hàng thương mại với tư cách là một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng có khả năng giải quyết các mâu thuẫn này bằng cách huy động mọi nguồn vốn tiền tệ chưa sử dụng của các chủ thể kinh tế khác nhau trong xã hội (doanh nghiệp, tư nhân, cơ quan đoàn thể, Ngân sách Nhà nước.) để hình thành quỹ cho vay tập trung.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động, các Ngân hàng sử dụng để cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế với các mục đích khác nhau. Như vậy ngân hàng làm môi giới trung gian giữa người đi vay và người cho vay mà thực chất ngân hàng thực hiện nghiệp vụ kinh doanh bằng việc đi vay để cho vay. 5 Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Các ngân hàng thương mại đã đáp ứng được những nhu cầu vốn kinh doanh cần thiết để đảm bảo quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá liên tục để mở rộng phạm vi, quy mô hoạt động làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đó.
Chức năng trung gian thanh toán Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng thương mại thực hiện các khoản thanh toán chi trả cho khách hàng. Hàng ngày nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các quan hệ giao dịch với khối lượng các khoản thanh toán lớn. Với hoạt động của ngân hàng thương mại, trong quá trình làm trung gian tín dụng đã thu hút các nhà kinh doanh buôn bán với nhau mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và tạo điều kiện để ngân hàng giữ vai trò trung gian thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản như trích tiền trên tài khoản của người mua để chuyển trả vào tài khoản của người khác. hoặc phục vụ cho quá trình thanh toán về hàng hóa dịch vụ cho khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại đã góp phần thực hiện các khoản thanh toán nhanh chóng, làm tăng tốc độ luân chuyển vốn. Đồng thời điều tiết giảm tiền mặt trong lưu thông dẫn đến việc tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như các chi phí về mặt in ấn, đếm nhận, vận chuyển và bảo quản. Chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và thanh toán mà các ngân hàng thương mại có khả năng "tạo tiền". Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào một ngân hàng, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một hệ thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội.
Sự tạo tiền bắt đầu từ khi "đồng tiền ghi sổ" ra đời. Song chỉ có một hệ thống ngân hàng 6 ngân hàng thì không thể có chức năng tạo tiền. Khả năng mở rộng tiền gửi của ngân hàng thương mại phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nghiệp vụ cho vay và thanh toán không dùng tiền mặt. Do đó đòi hỏi ngân hàng ngày càng hiện đại hóa hệ thống thanh toán để tạo thành thói quen thanh toán qua ngân hàng.
Đồng thời phải tận dụng quỹ cho vay để giảm đến mức thấp nhất các khoản dự trữ dư thừa. Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Đồng thời thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền" góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian tín dụng.
HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Các NHTM thực hiện rất nhiều hoạt động, trong đó có các hoạt động chủ yếu như sau: 1. Tạo lập nguồn vốn Vốn của NHTM gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Mỗi loại vốn đều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại.1 Vốn tự có Vốn tự có của ngân hàng thương mại là những giái trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.
Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất- tạo lên tài sản cố định của ngân hàng phục vụ cho bản than ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin 7 đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Nó còn là một trong những căn cứ quyết định quy mô tài sản có của mỗi ngân hàng. Như vậy, quy mô, sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và thế phát triển của ngân hàng thương mại.
Vốn tự có gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung.2 Vốn huy động Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn kinh doanh. Đặc điểm của vốn huy động là nó không thuộc sở hữu của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng và là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn vốn thu hút từ bên ngoài của NHTM. Vốn huy động không mang tính ổn định mà luôn luôn biến động và đây chính là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng. Do đó, ngân hàng thương mại cần thông qua các công cụ tài chính với mức lãi suất khác nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tới mức tối đa nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng.
Nghiệp vụ huy động vốn vô cùng đa dạng với các loại hình: - Tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm. - Phát hành giấy tờ có giá. a/ Tiền gửi - Tiền gửi thanh toán là khoản tiền được gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán chi trả phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi này chiếm đại bộ phận trong vốn tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sử dụng các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp.
Với 8 loại tiền gửi này thì người gửi tiền có thể phát hành séc, uỷ nhiệm chi và các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác để thực hiện chi trả hàng hóa dịch vụ. Số dư tiền gửi trên tài khoản này thường xuyên biến động, khách hàng có thể rút vốn bất kỳ lúc nào, việc kế hoạch hóa nguồn vốn là tương đối khó. Tuy nhiên các khoản tiền gửi thanh toán tạo cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn là vốn trong thanh toán nên các ngân hàng cần tích cực thu hút nguồn vốn này. - Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thoả thuận một thời hạn rút vốn nhất định nên ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc sử dụng vốn.