CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT NGÂN HÀNG Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực mang tính rủi ro cao. Vì vậy để hạn chế tối đa rủi ro và đảm bảo cho sự phát triển ổn định bền vững của ngân hàng thương mại nói chung và hệ thống tài chính nói chung, 02 hoạt động chính của thanh tra, giám sát là: thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa. Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1. Khái niệm giám sát ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ làm cho các tổ chức tín dụng (TCTD) đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng tổ chức kinh tế và cá nhân nói riêng. Thực tiễn cho thấy, khi tiến hành hoạt động kinh doanh,TCTD luôn phải đối đầu với rủi ro, do vậy, chấp nhận mở rộng và phát triển hoạt động ngân hàng luôn đồng nghĩa với việc phải chấp nhận sự xuất hiện thêm nhiều loại rủi ro có thể xảy ra. Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các TCTD có thể sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro để đạt được mục tiêu đề ra của mình.Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra thì cũng đồng nghĩa với việc TCTD phải đối mặt với những hậu quả và tổn thất lớn như phá sản hay đóng cửa hoạt động.
Việc một ngân hàng mất khả năng thanh khoản hay phá sản mang lại hậu quả cho nền kinh tế là rất nghiêm trọng, nên mọi hoạt động kinhdoanh ngân hàng phải cần được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng để ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ, đảm bảo sự an toàn lành mạnh cho toàn hệ thống. 6 Thuật ngữ "Giám sát ngân hàng" ( Banking supervision) đuợc nêu trong trang Web: www.org/bcbs /Ủy ban Basel. Theo ủy ban Basel "Giám sát ngân hàng" đuợc hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng, bao gồm: xây dựng các quy định pháp lý, cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ cuỡng chế thực thi các yêu cầu chỉnh sửa. Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, Giám sát Ngân hàng có thể chỉ đuợc hiểu là các hoạt động thanh tra, giám sát tổ chức và hoạt động của Tổ chức tín dụng và hoạt động Ngân hàng của các tổ chức khác.
Đối với Việt Nam, ngành Ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá truớc đây, một hệ thống ngân hàng độc quyền một cấp, đã đuợc tạo dựng và tồn tại suốt gần bốn thập kỷ. Vào thời kỳ đó, mọi nguồn lực kinh tế của đất nuớc đều đuợc phân bổ theo mệnh lệnh của Chính phủ. Có rất ít nhu cầu phải xây dựng và thực thi Chính sách Tiền Tệ cũng nhu quản lý giám sát các tổ chức tài chính.
Cuộc cải cách Ngân hàng bắt đầu từ cuối thập kỷ 80, với sự ra đời 2 pháp lệnh về ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam chính thức chuyển từ cấp 1 sang cấp 2: NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nuớc về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng của một NHTW; các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ. Một hệ thống pháp luật về ngành NH đã đuợc xây dựng nhằm tạo lập những khuôn khổ pháp lý ban đầu cho sự vận hành của hệ thống ngân hàng mới. Trong khi NHNN muu cầu đảm đuơng những nhiệm vụ thông thuờng của một NHTW trong nền kinh tế thị truờng - hoạch định và thực thi CSTT quốc gia, và giám sát hệ thống tài chính - ngân hàng, các Ngân hàng Thuơng Mại bắt đầu huớng về mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và tập duợt hạch toán kinh tế. Sau gần 2 thập kỷ tiến hành cải cách, hệ thống NH đã trải qua 2 giai đoạn phát triển đáng luu ý: Giai đoạn đầu 1990-1996 là sự tăng lên nhanh 7 chóng về số lượng và loại hình các TCTD nhằm đáp ứng sự tăng vọt của cầu về dịch vụ tài chính trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi; Giai đoạn tiếp theo từ 1997 tới nay là củng cố, chấn chỉnh hệ thống ngân hàng 2 cấp mới được hình thành, cụ thể là việc triển khai thực hiện Chương trình cải cách NH trọn gói (gồm 5 cấu phần): Tái cơ cấu các Ngân hàng Thương mại cổ phần; Tái cơ cấu các Ngân hàng thương mại nhà nước; Củng cố hệ thống Giám sát Ngân hàng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Ngân hàng; Tạo sân chơi bình đẳng cho mọi ngân hàng thuộc các hình thức sở hữu khác nhau; Phát triển nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng.
Mặc dù nội dung Chương trình cải cách là đúng đắn, nhưng do nhiều khó khăn, hạn chế, tiến độ thực hiện Chương trình và kết quả đạt được đã rất không như mong đợi. Phải tới gần đây, những năm sau năm 2000, tình trạng mới được cải thiện đáng kể. Trong suốt những năm này, mặc dù đã tách bỏ chức năng trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng để trở về với vai trò là cơ quan của Chính phủ thuần tuý thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là Ngân hàng Trung ương của đất nước, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi khuôn mẫu truyền thống mang nặng tính quản lý hành chính của thời kỳ ngân hàng độc quyền một cấp trước đây. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì vai trò bộ chủ quản của mình đối với các Ngân hàng Thương mại nhà nước - nhóm tổ chức tín dụng nhà nước đang tiếp tục thống trị hệ thống Ngân hàng khu vực tài chính.
Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nhà nước vẫn mang dáng dấp của một cơ quan hành chính - cơ quan ngang Bộ nhưng có cấu trúc ngành dọc. Trong một bối cảnh đặc thù như vậy, thuật ngữ “Giám sát Ngân hàng” mà chúng ta quen sử dụng tất yếu sẽ khác về bản chất so với thuật ngữ Giám sát Ngân hàng theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế mà Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng đề cập đến. 8 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nuớc 2010, Giám sát ngân hàng là hoạt động của đơn vị thực hiện giám sát ngân hàng trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tuợng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn và xử lý kịp thời các rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Ngày 01/08/2017 Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam đã ban hành Thông tu số 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự thủ tục giám sát Ngân hàng.
Thông tu này có hiệu lực từ ngày 01/12/2017. Quyết định số 398/1999/QĐ- NHNN3 ngày 9 tháng 11 năm 1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nuớc về việc ban hành Quy chế giám sát từ xa đối với các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam bị bãi bỏ và hết hiệu lực. Theo quyết định số 398/1999/QĐ- NHNN3 Giám sát từ xa là việc gián tiếp kiểm tra thông qua tổng hợp và phân tích các báo cáo để đánh giá các nội dung sau đây của các tổ chức tín dụng: Diễn biến về cơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có; Chất luợng tài sản Có;Vốn tự có;Tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh; Việc thực hiện qui định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và các qui định khác của pháp luật; Các vấn đề liên quan khác. Nhu vậy, khái niệm "Giám sát ngân hàng" đã bổ sung thêm nội dung phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn các rủi ro trong hoạt động ngân hàng so với khái niệm "Giám sát từ xa" truớc đây.
Nguyên tắc giám sát ngân hàng Nguyên tắc giám sát ngân hàng đuợc nêu tại Điều 4, Thông tu số 08/2017/TT-NHNN quy định về trình tự thủ tục giám sát Ngân hàng: Một là, giám sát ngân hàng phải tuân theo quy định của pháp luật hiện hành; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thuờng của đối tuợng giám sát ngân hàng. 9 Hai là, kết hợp giám sát tuân thủ với giám sát rủi ro. Ba là, kết hợp giám sát an toàn vi mô với giám sát an toàn vĩ mô. Bốn là, giám sát ngân hàng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục đối với toàn bộ hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng.
Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động giám sát ngân hàng và hoạt động thanh tra ngân hàng; giữa hoạt động giám sát ngân hàng và hoạt động cấp, bổ sung, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng. Sáu là, bảo đảm tập trung, thống nhất trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ từ trung ương đến địa phương. Đối tượng liên quan trong quy trình giám sát Ngân hàng Theo quy định tại điều 56, luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010, Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng.
Theo quy định tại khoản 2, điều 2, nghị định số 26/2014/NĐ-CP đối tượng giám sát của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng (sau đây gọi chung là đối tượng giám sát ngân hàng): Đối tượng giám sát ngân hàng được quy định tại Điều 56 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và công ty con của tổ chức tín dụng; Đối tượng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; Đối tượng khác theo quy định của pháp luật.