CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về kh ách h à ng lớn 1. Những đặc trưng về khách hàng lởn của Ngân hàng thương mại Mỗi một quốc gia có sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như pháp luật nên cách phân chia quy mô của doanh nghiệp vì thế cũng khác nhau.
Một doanh nghiệp đặt trong điều kiện kinh tế của nước này là doanh nghiệp nhỏ nhưng trong điều kiện kinh tế của nước khác lại là doanh nghiệp lớn. Vì vậy khi nói đến doanh nghiệp lớn thì ta nên xác định rõ doanh nghiệp đó đang ở trong môi trường kinh tế nào, ở thời điểm nào. Nói một cách khác, ta chỉ có thể xác định được đó là doanh nghiệp lớn khi đặt nó trong một quốc gia cụ thể, tại một thời điểm nhất định.Việc đưa ra một định nghĩa chính xác về doanh nghiệp lớn cho riêng mình có một ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông thường, định nghĩa về doanh nghiệp lớn dựa trên một nhóm các chỉ tiêu định tính và định lượng trong đó các chỉ tiêu định lượng đóng vai trò quyết định phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Có ba chỉ tiêu định lượng thường được dùng độc lập hoặc kết hợp với nhau để xác định tính chất lớn của doanh nghiệp: * Lượng vốn đầu tư vào máy móc dây chuyền sản xuất. * Lực lượng lao động. * Quy mô tổng tài sản hoặc doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Về mặt định tính, các chỉ tiêu thường được xem xét là cơ cấu của doanh ∖ Quy mô DN siêu DN nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ 4 Khu vực ×χ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn động nguồn động nghiệp, số người vốn quản lý, người ra quyết định, ngành nghề kinh doanh và vốn I.
Nông, lâm 10 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 rủi ro nghiệp và thủy trở xuống người đến tỷ người người có thể xảy ra. Đối với hầu hết các nước trên thế giới sự phân loại hình thức sản 200 người đồng trở doanh xuống nghiệp lớn không liên quan đến hình thức sở hữu cũng như tư cách II. Công nghiệp 10 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 đếntrên 200 từ và xây dựng pháp trở xuống người đến tỷ người người nhân của doanh nghiệp, 200 tứcngười là khái đồng niệm sẽ được áp dụng chung cho doanh trở xuống III. Thư ng mại 10 nghiệp nhà 10nước, tỷ đồng từ trên doanh 10 tưtừnhân, nghiệp trên 10 đến công tytừ trêndanh, hợp 50 công ty liên và dịch vụ doanh.
trở xuống người đến tỷ người người 50 người đồng đến trởTại Việt Nam, chưa có một định nghĩa chính thức nào xác định doanh xuống 50 đến nghiệp lớn là gì tuy nhiên theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ban hành định nghĩa về DNNVV. DNNVV là c ơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn Bảng vốn tươngchí 1. Tiêu đương phântổng loại tài sản được DNNVV củaxác Việtđịnh Namtrong bảng cân Doanh nghiệp lớn Tổng nguồn vốn Số lao 5 động I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản ≥ 100 tỷ đồng ≥ 300 người II.
Công nghiệp và xây Nhưdựng ≥ 100 vậy có thể hiểu tỷ đồng doanh ≥ 300 người III. Thương mại và nghiệp dịch vụlớn là những≥ doanh 50 tỷ đồng ≥ 100 nghiệp sau: người Doanh thu ≥ 1.000 tỷ đồng Tổng Tài sản ≥ 500 tỷ đồng Mặc dù khái niệm doanh nghiệp lớn ở mỗi quốc gia là khác nhau, nhưng ta có thể kết luận rằng thuật ngữ doanh nghiệp lớn là bao hàm một tập hợp các thực thể kinh tế có quy mô lớn nếu xét trên phương diện vốn và lao động so với mặt bằng phát triển chung của nền kinh tế ở mỗi quốc gia nhất định. Tiêu chí phân loại khách hàng lớn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội:. Đặc điêm của KHL * Hoạt động kinh doanh của KHL: Các KHL thường là các doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm trên thị trường do đó hoạt động thường ổn định, tăng trưởng đều đặn và ít biến đổi.
Các doanh nghiệp lớn với quy mô củ a mình có thể đứng vững và hoạt động tốt trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ. Doanh nghiệp lớn thường có một dây chuyền sản xuất lớn nên khi nền kinh tế biến động thì bộ máy sản xuất cồng kềnh như vậy sẽ không dễ dàng thay đổi để thích nghi với thị trường. Do vậy khó khăn mà doanh nghiệp lớn gặp phải đó là: bộ máy quản lý nặng nề, thay đổi chậm đối với những thay đổi đột ngột của thị trường. * Ngành nghề mà các KHL đang khai thác.
Với ưu thế về quy mô và nguồn lực rất lớn của mình nên doanh nghiệp lớn có thể tham gia vào hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế mà chủ yếu là các ngành nghề quan trọng của quốc gia như: công nghiệp nặng, khai thác khoáng sản, luyện kim, ngân 6 hàng tài chính, bảo hiểm, may mặc. Các ngành nghề được nêu ở trên đều là các ngành nghề có số vốn đầu tư ban đầu rất lớn, công nghệ sử dụng cao và độ chính xác lớn, lao động sử dụng thường là lao động có tay nghề cao và lượng sử dụng lao động rất nhiều. Các doanh nghiệp lớn thường có một ngành nghề kinh doanh chính, bên cạnh đó còn mở rộng đầu tư vào các nghành liên quan, thậm chí có thể sản xuất đa ngành nghề không liên quan đến nhau. Việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế do đó cần phải được cân nhắc theo nghành nghề trọng điểm và theo chiều sâu.
* Chu kỳ kinh doanh của các doanh nghiệp lớn: thường diễn ra đều đặn và độ ổn định cao mang tính chất dài hạn do các sản phẩm và dịch vụ cung cấp đều có chiến lược phát triển dài hạn như: các sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các sản phẩm cung cấp năng lượng như than, gas, dầu khí, các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu và các dịch vụ quan trọng huyết mạch của nền kinh tế quốc dân như NH, tài chính, bưu chính viễn thông. * Môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn: Các doanh nghiệp lớn chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số các DN đăng ký kinh doanh nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Đa phần môi trường cạnh tranh ở đây là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước do các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ nguồn lực để canh tranh. Thị trường hàng hoá của các doanh nghiệp lớn rất rộng từ thành thị đến nông thôn; từ người giàu đến người nghèo.
vì các sản phẩm của doanh nghiệp thường là các sản ph m thiết yếu quan trọng trong cuộc sống. Vai trò của KHL Các doanh nghiệp quy mô lớn đã có vai trò chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của các nền kinh tế thành công ở khu vực 7 Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore. Tại Việt Nam, phân tích về các doanh nghiệp lớn thường nhấn mạnh vào những yếu kém và phi hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước, trong khi các vấn đề chính sách về quản lý, giám sát và khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn, ít được đề cập và nghiên cứu. Cho dù tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần được ghi nhận và tôn vinh, nhưng không nên phủ nhận vai trò khó thay thế của các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam.
Vai trò của các doanh nghiệp lớn: Thứ nhất, doanh nghiệp lớn đóng góp phần quyết định vào việc định hướng thị trường và giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế: Ngành nghề tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp khai thác kinh doanh tài nguyên khoáng sản như: dầu khí, than và các ngành kinh tế nhà nước nắm thế độc quyền như: hàng không, ngân hàng, tài chính, viễn thông, điện lực. đó là các ngành nghề mang tính chất quyết định vào sự bình ồn của thị trường. Các doanh nghiệp lớn hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, chiếm 60 % doanh thu trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Báo cáo VNR500 năm 2014). Vì vậy, Nhà nước có thể tác động dễ dàng tới các doanh nghiệp lớn để điều khiển nền kinh tế theo ý muốn.
Thứ hai, sự ổn định của các doanh nghiệp lớn liên quan tới sự ổn định của thị trường: sự phá sản của một tập đoàn kinh tế lớn có thể dẫn tới sự bất ổn định của toàn nền kinh tế. Khi một doanh nghiệp có số vốn đăng kí lớn nắm giữ trong tay hàng triệu việc làm rơi vào phá sản nó có thể dẫn tới hàng triệu người lâm vào tình trạng phá sản theo, khiến nền kinh tế rơi vào bất ổn thậm chí phá sản. Ví dụ như vào năm 2001, sự phá sản của hệ thống ngân hàng là nguyên nhân làm nền kinh tế Argentina rơi vào suy thoái. Hay khủng 8 hoảng tài chính thế giới năm 2008 bắt nguồn từ việc phả sản của các tập đoàn tài chính lớn ở phố Wall.
Thứ ba, doanh nghiệp lớn đóng góp giải quyết phần lớn lao động trong nền kinh tế thị trường; chúng ta đã biết một trong những chỉ tiêu phản ánh quy mô của một doanh nghiệp là số lượng lao động trong doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp lớn có số lượng ít nhưng số lượng việc làm cho doanh nghiệp đó là rất nhiều, thậm chí với những tập đoàn lớn trên thế giới số lượng việc làm mà một tập đoàn có thể đáp ứng lên tới hàng triệu người. Chính vì thế khi nền kinh tế bị suy thoái, một trong những mục tiêu quan trọng nhất để cứu nền kinh tế, tạo công ăn việc làm là cứu các tập đoàn tài chính, các tập đoàn sản xuất lớn. Ví dụ như ở Mỹ trong khủng hoảng kinh tế năm 2008 chính phủ đã chi hơn 700 tỷ USD để cứu các tập đoàn tài chính và hơn 15 tỷ USD để cứu ngành công nghiệp ô tô.