Tổng quan nghiên cứu

Khu kinh tế Nghi Sơn tại tỉnh Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định số 102/QĐ-TTg ngày 15/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ, với quy hoạch tổng thể trên diện tích 18.800 ha thuộc địa bàn 12 xã của huyện Tĩnh Gia. Đến giai đoạn 2010 - 2013, khu kinh tế này đã thu hút 29 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký vượt 8,5 tỷ USD, nổi bật là Tổ hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn trị giá hơn 6 tỷ USD cùng các nhà máy nhiệt điện có công suất từ 600 MW đến 1.200 MW. Với quy mô dân số nội khu đạt 80.590 người và lực lượng lao động trong độ tuổi khoảng 43.000 người, nhu cầu giao thương, vận chuyển hàng hóa qua cụm cảng biển nước sâu có công suất hàng trăm triệu tấn mỗi năm ngày càng tăng cao.

Trước áp lực vận tải đó, vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là thiết kế công trình Cầu Vằng vượt sông nhằm đồng bộ hóa mạng lưới giao thông kết nối Quốc lộ 1A với các phân khu công nghiệp và tuyến cao tốc Bắc - Nam. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xây dựng giải pháp thiết kế kỹ thuật hoàn chỉnh cho công trình cầu vĩnh cửu, đáp ứng cấp thông thuyền đường thủy nội địa cấp VI và chịu được lưu lượng xe tải nặng liên tục.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại vị trí vượt sông có khẩu độ thoát nước 90 mét, chiều dài toàn cầu đạt 111,3 mét, bề rộng mặt cầu 15 mét phục vụ 3 làn xe cơ giới tiêu chuẩn. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi góp phần hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, nâng cao năng lực thông hành thêm khoảng 35% cho mạng lưới giao thông liên vùng và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mục tiêu 7% đến 8% trong giai đoạn dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống tiêu chuẩn thiết kế cầu 22 TCN 272-05 do Bộ Giao thông Vận tải ban hành, dựa trên triết lý thiết kế theo hệ số tải trọng và sức kháng LRFD. Ba trạng thái giới hạn cơ bản được xem xét xuyên suốt gồm: trạng thái giới hạn cường độ I để kiểm tra khả năng chịu lực tối đa của kết cấu dầm và móng; trạng thái giới hạn sử dụng để kiểm soát độ võng và vết nứt bê tông; trạng thái giới hạn mỏi để đánh giá độ bền của cốt thép dự ứng lực dưới tác động của dòng xe tải lặp lại.

Bên cạnh đó, mô hình cơ học đất và móng cọc của Reese và O'Neill năm 1988 cùng công thức Reese và Wright năm 1997 được áp dụng để xác định sức kháng mũi cọc và sức kháng ma sát thân cọc trong tầng địa chất cát sỏi. Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: dầm bê tông cốt thép dự ứng lực căng trước mác M500, cọc khoan nhồi bê tông đường kính 1.000 mm, tải trọng thiết kế tiêu chuẩn HL-93 kết hợp dải tải trọng làn phân bố 9,3 kN/m và lực xung kích động học 25%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của nghiên cứu được thu thập từ tài liệu khảo sát thủy văn với mực nước lũ thiết kế tần suất 1% là 281 mét, mực nước thấp nhất 270 mét và số liệu khoan địa chất công trình. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 3 hố khoan địa chất đại diện với chiều sâu khảo sát từ 23,37 mét đến 29,37 mét dọc theo tim tuyến cầu. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại vị trí đặt hai mố M1, M2 và hai trụ T1, T2, nhằm ghi nhận chính xác 6 lớp đất nền từ cát nhỏ, sét xám đen đến lớp cát sỏi sạn chịu lực có chỉ số SPT N60 đạt 36 búa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích cơ học kết cấu theo đường ảnh hưởng và mô hình hóa phần tử hữu hạn là nhằm tính toán chính xác phản lực tổ hợp bất lợi nhất tác dụng lên móng mố đạt 1.712,91 tấn và móng trụ đạt 2.571,50 tấn. Quá trình tính toán, so sánh phương án và lập hồ sơ kỹ thuật được triển khai tập trung trong giai đoạn từ tháng 01/2013 đến tháng 01/2014, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc triển khai dự án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả tính toán sức chịu tải cọc khoan nhồi đường kính 1.000 mm cho thấy sức kháng theo đất nền tại vị trí mố đạt 435,73 tấn và tại trụ đạt 538,85 tấn, trong khi sức chịu tải theo vật liệu bê tông mác 300 và cốt thép AII đạt 1.195,30 tấn. Sự chênh lệch khoảng 55% đến 63% giữa sức kháng đất nền và sức kháng vật liệu khẳng định điều kiện địa chất tầng sỏi sạn đóng vai trò quyết định đến độ sâu chôn cọc lần lượt là 20 mét tại mố và 25 mét tại trụ.

Thứ hai, qua so sánh ba phương án kết cấu nhịp giản đơn 3 nhịp x 33 mét, phương án dầm chữ I căng trước có thể tích bê tông là 22,38 m3 trên một phiến dầm, tiết kiệm 25,7% lượng bê tông so với dầm chữ T có thể tích 30,12 m3. Trọng lượng bản thân dầm I phân bố dọc cầu chỉ đạt 4,9 tấn/mét, giúp giảm tĩnh tải tác dụng lên bệ móng mố xuống mức 1.099,19 tấn, thấp hơn khoảng 0,96% so với dầm chữ T là 1.109,84 tấn.

Thứ ba, việc xác định số lượng cọc đã chứng minh phương án bố trí 8 cọc khoan nhồi cho một mố và 8 cọc cho một trụ bảo đảm hệ số dự trữ an toàn vượt tải trọng tính toán từ 1,5 đến 2,0 lần, với tải trọng phân bố tối đa lên mỗi đầu cọc tại trụ chỉ đạt 321,44 tấn, hoàn toàn nằm trong giới hạn cho phép.

Thảo luận kết quả

Các số liệu tính toán nội lực và khối lượng vật liệu có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa thể tích bê tông dầm, chi phí dự toán xây lắp của các phương án dầm I, dầm T, dầm Super T, cùng bảng ma trận tổng hợp tải trọng mố trụ theo trạng thái giới hạn cường độ I.

Nguyên nhân dầm chữ I ưu việt hơn bắt nguồn từ việc tối ưu hóa hình học mặt cắt ngang với diện tích đáy dầm 0,622 m2 ở giữa nhịp và mở rộng lên 0,9934 m2 tại vị trí gối, giúp dầm chịu mômen uốn và lực cắt vượt trội nhưng vẫn giảm thiểu đáng kể trọng lượng bản thân. Khi so sánh với các công trình cầu trung bình trong khu vực ven biển Bắc Trung Bộ, giải pháp kết cấu này giúp rút ngắn tiến độ đúc sẵn dầm tại bãi đúc khoảng 15 ngày cho mỗi nhịp. Đồng thời, việc loại bỏ sức kháng của 2 lớp cát nhỏ và sét xám đen phía trên trong mô hình tính toán đảm bảo móng công trình không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng xói lở lòng sông trong mùa lũ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phê duyệt và lựa chọn phương án dầm chữ I bê tông cốt thép dự ứng lực 3 nhịp x 33 mét làm giải pháp thi công chính thức, yêu cầu nhà thầu xây lắp tuân thủ nghiêm ngặt quy trình căng kéo tao thép cường độ cao 12,7 mm với mô-đun đàn hồi 195.000 MPa, đạt mục tiêu kiểm soát độ võng dầm dưới mức 1/800 chiều dài nhịp.

Thứ hai, triển khai công nghệ thi công móng cọc khoan nhồi kết hợp hệ vòng vây cọc ván thép Larsen IV tại các vị trí mố và trụ dưới nước, thực hiện giữ vách bằng dung dịch bentonite có tỷ trọng 1,05 đến 1,15 g/cm3 trong suốt 100% thời gian khoan để chống sạt lở thành hố khoan trước khi đổ bê tông.

Thứ ba, áp dụng công nghệ giàn lao dầm ba chân theo phương pháp mút thừa để lắp đặt 7 phiến dầm trên mỗi nhịp, kiểm soát cự ly dịch chuyển xe kéo dầm trên ray 4,2 mét nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công nhân và rút ngắn thời gian lắp kết cấu nhịp xuống dưới 45 ngày.

Thứ tư, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn giám sát cần thiết lập quy trình kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi thông qua hệ thống ống siêu âm đồng bộ 100% số cọc, đồng thời định kỳ bảo dưỡng lớp phủ bê tông nhựa asphan dày 5 cm và khe co giãn cao su 12 tháng một lần nhằm chống xâm thực mặn từ môi trường biển Nghi Sơn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư thiết kế cầu đường: Luận văn cung cấp toàn bộ quy trình tính toán dầm dự ứng lực và cọc khoan nhồi chi tiết theo tiêu chuẩn 22 TCN 272-05, là biểu mẫu thực hành chuẩn xác cho các bài toán thiết kế cầu vượt sông khẩu độ vừa.

Nhóm cán bộ quản lý dự án và chủ đầu tư: Cung cấp phương pháp luận so sánh chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật giữa các phương án kết cấu, giúp tối ưu hóa tổng mức đầu tư xây dựng trên 91 tỷ đồng cho các dự án hạ tầng giao thông đô thị và công nghiệp.

Nhóm đơn vị thi công xây lắp công trình: Nắm bắt chi tiết biện pháp tổ chức thi công từng bước từ khoan cọc nhồi, thi công bệ mố trụ đến công nghệ lao lắp dầm bằng giá lao 3 chân trong điều kiện mặt bằng sông nước phức tạp.

Nhóm giảng viên, học viên cao học chuyên ngành công trình giao thông: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp lập mô hình tải trọng xe HL-93, xử lý số liệu địa chất SPT và phân tích tương tác kết cấu - nền móng công trình.

Câu hỏi thường gặp

Tổ hợp tải trọng HL-93 tác dụng lên công trình Cầu Vằng được xác định như thế nào? Theo tiêu chuẩn 22 TCN 272-05, tải trọng tính toán là tổ hợp bất lợi nhất giữa xe tải thiết kế 3 trục có tải trọng trục lần lượt là 35 kN, 145 kN, 145 kN kết hợp với dải tải trọng làn đều 9,3 kN/m và lực người đi bộ 3,0 kN/m, nhân với hệ số xung kích 1,25 cho mố trụ đặc.

Tại sao móng cọc khoan nhồi đường kính 1.000 mm được chọn thay vì cọc đúc sẵn? Cọc khoan nhồi cho phép ngàm sâu 25 mét trực tiếp vào tầng địa chất cát sỏi sạn có chỉ số SPT bằng 36 mà cọc đúc sẵn không thể xuyên qua nếu không dùng biện pháp khoan dẫn tốn kém, đồng thời giảm 100% chấn động rung lắc đến các công trình lân cận.

Biện pháp giàn lao dầm ba chân mang lại ưu thế gì cho công tác lắp dựng nhịp 33 mét? Biện pháp này tận dụng đường dẫn đầu cầu để vận chuyển dầm đúc sẵn ra vị trí lắp ghép mà không cần dựng đà giáo tạm dưới lòng sông, giúp duy trì tĩnh không thông thuyền sông cấp VI rộng 15 mét và giảm chi phí phụ trợ thi công khoảng 20%.

Việc kiểm soát chất lượng bê tông dầm mác M500 và mố trụ mác M300 được thực hiện ra sao? Toàn bộ khối lượng bê tông dầm và bệ móng mố trụ đều được kiểm soát bằng thí nghiệm nén mẫu chuẩn ở 28 ngày tuổi, kết hợp kiểm tra độ sụt tại hiện trường và siêu âm kiểm tra độ đồng nhất của bê tông lòng cọc khoan nhồi trước khi thi công bệ.

Cơ cấu tổng mức đầu tư của phương án cầu dầm chữ I bao gồm những chi phí chính nào? Tổng mức đầu tư bao gồm chi phí xây lắp chính kết cấu nhịp và mố trụ, chi phí đường hai đầu cầu với 311,65 m3 móng mặt đường, chi phí dự phòng 3%, chi phí trượt giá 10% và chi phí quản lý dự án khác 15% theo định mức quy định hiện hành.

Kết luận

Thứ nhất, nghiên cứu đã giải quyết thành công bài toán thiết kế kỹ thuật Cầu Vằng với sơ đồ 3 nhịp x 33 mét, quy mô 3 làn xe, đảm bảo kết nối huyết mạch cho Khu kinh tế Nghi Sơn.

Thứ hai, phương án dầm chữ I bê tông cốt thép dự ứng lực mác M500 chứng minh tính vượt trội về kinh tế và kỹ thuật khi giảm 25,7% khối lượng bê tông dầm so với kết cấu dầm chữ T.

Thứ ba, giải pháp móng 8 cọc khoan nhồi đường kính 1.000 mm cắm sâu vào tầng cuội sỏi chịu lực đảm bảo an toàn tuyệt đối trước tải trọng nén thẳng đứng trên 2.500 tấn tại trụ cầu.

Thứ tư, quy trình công nghệ thi công giá lao 3 chân và vòng vây cọc ván thép Larsen đã hoàn thiện chuỗi giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng thực tiễn cao trong xây dựng cầu đường.

Thứ năm, kết quả nghiên cứu là nền tảng tin cậy phục vụ triển khai thi công công trình trong chu kỳ dự án 18 tháng tiếp theo, tạo đòn bẩy giao thương mạnh mẽ cho tỉnh Thanh Hóa.

Các kỹ sư và nhà quản lý hãy tải tài liệu toàn văn để áp dụng ngay mô hình tính toán và bản vẽ thiết kế này vào thực tiễn dự án.